Thuộc tính của văn bản

Tên văn bản: Báo cáo số 97 - BC/TU ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 15-CT/TW, ngày 28-8-2002 của Ban Bí thư Trung ương (Khoá IX) về tăng cường và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng
Số hiệu văn bản 97-BC/TU Loại văn bản Báo cáo
Ngày ban hành 30/11/2007 Ngày hiệu lực 30/11/2007
Trạng thái văn bản Đang có hiệu lực Lĩnh vực văn bản
Cơ quan ban hành tỉnh ủy vĩnh phúc Người ký
Trích yếu Báo cáo số 97 - BC/TU ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 15-CT/TW, ngày 28-8-2002 của Ban Bí thư Trung ương (Khoá IX) về tăng cường và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
File đính kèm:

TỈNH UỶ VĨNH PHÚC

Số: 97 - BC/TU

 

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Vĩnh Yên, ngày 30  tháng 11 năm 2007

 

BÁO CÁO
Tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 15-CT/TW, ngày 28-8-2002
của Ban Bí thư Trung ương (Khoá IX) về tăng cường
và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Thực hiện Thông tri số 01-TT/TW, ngày 24/9/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá X) và Hướng dẫn số 10/HVCTQG, ngày 05/10/2007 của Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh về hướng dẫn tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 15-CT/TW, ngày 28/8/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) “Về tăng cường và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”. Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Chỉ thị 15 trên địa bàn tỉnh như sau.

PHẦN THỨ NHẤT
KẾT QUẢ 5 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ 15, NGÀY
28/8/2002
CỦA BAN BÍ THƯ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHOÁ IX)

I. CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CỦA CẤP UỶ ĐẢNG.

Ngày 28-8-2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) ra Chỉ thị số 15-CT/TW “Về tăng cường và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”. Quán triệt tinh thần Chỉ thị 15 và Kế hoạch số 04/HVCTQG, ngày 15/4/2003 hướng dẫn thực hiện của Học Viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Thường trực Tỉnh uỷ đã chỉ đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tổ chức hội nghị quán triệt Chỉ thị 15 của Trung ương và Kế hoạch số 04 của Học viện đến Đảng bộ các cấp, các ngành, đoàn thể; đồng thời phối hợp với Viện Lịch sử Đảng - Học Viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ, lịch sử truyền thống các ngành cho đội ngũ cán bộ chuyên trách và kiêm nhiệm phụ trách công tác lịch sử Đảng từ huyện đến các xã, phường, thị trấn toàn tỉnh. Sau đợt tập huấn toàn tỉnh, ngày 30/7/2003 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ban hành Thông tri số 33-TTr/TU “Về tăng cường công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ các cấp, lịch sử ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang trong tỉnh” để triển khai thực hiện Chỉ thị 15 của Trung ương trong toàn tỉnh. Sau khi có sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, hầu hết các huyện, thành, thị uỷ đã ra thông tri để lãnh đạo Đảng bộ cơ sở tổ chức, triển khai thực hiện công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương; các đoàn thể, các ngành, các Đảng uỷ trực thuộc cũng tổ chức quán triệt nghiêm túc Chỉ thị 15 của Trung ương, Thông tri 33 của Tỉnh uỷ.

Công tác tuyên truyền Chỉ thị 15 của Trung ương và Thông tri 33 của Tỉnh uỷ được triển khai trên nhiều kênh thông tin như: Bản tin sinh hoạt chi bộ; Báo Vĩnh Phúc và Đài phát thanh truyền hình tỉnh và đăng tải tuyên truyền trên các tờ tin của các huyện, thị và đài truyền thanh cơ sở. Vì vậy, nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên đã có sự chuyển biến nhất định. Huyện uỷ Lập Thạch đã chỉ đạo chính quyền trích một phần kinh phí từ ngân sách của huyện để hỗ trợ cho các xã khó khăn triển khai nghiên cứu, biên soạn và xuất bản lịch sử.

Hàng năm, vào dịp tổng kết cuối năm, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đều có báo cáo kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị 15 của Trung ương và Thông tri 33 của Tỉnh uỷ để báo cáo Thường trực Tỉnh uỷ và Viện Lịch sử Đảng. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đã xuống các cơ sở trực tiếp hướng dẫn triển khai và ban hành các văn bản chỉ đạo hướng dẫn về quy trình, các bước tiến hành nghiên cứu, biên soạn lịch sử; chỉ đạo Ban Tuyên giáo các huyện, thành, thị; các đảng uỷ trực thuộc và các đoàn thể rà soát, đánh giá tình hình công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng, lịch sử truyền thống các ngành, từ đó đề ra những nhiệm vụ cụ thể trước mắt và phương hướng, nhiệm vụ đến năm 2010.

Cùng với sự chỉ đạo về nghiên cứu, biên soạn; công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng của địa phương đã được Tỉnh uỷ quan tâm chỉ đạo như đã định hướng về giáo dục truyền thống trong Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngày 11/11/2002 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá XIII) về một số nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng. Sau khi hoàn thành biên soạn, xuất bản cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1930-2005), ngày 13/7/2007 Thường trực Tỉnh uỷ đã có Công văn số 471CV/TU chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ và các cơ quan liên quan khẩn trương tiến hành tổ chức, triển khai biên soạn nội dung bài giảng lịch sử địa phương phục vụ cho việc dạy và học thống nhất trong các nhà trường THCS và THPT trên địa bàn toàn tỉnh từ năm học 2008-2009.

II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN.

Thực hiện Chỉ thị 15 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thông tri 33 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, công tác sưu tầm tư liệu, nghiên cứu, biên soạn, xuất bản lịch sử Đảng bộ và lịch sử các ngành, lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, là một trong những tỉnh có số lượng lịch sử xuất bản cao trong toàn quốc.

1. Đối với cấp tỉnh.

 Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường trực Tỉnh uỷ và sự tham mưu tích cực của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, đến nay, Tỉnh uỷ đã chỉnh lý, bổ sung, biên soạn, xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc”, giai đoạn 1930-2005; một số cơ quan, ban, ngành, đoàn thể đã biên soạn đến năm 2000 như: Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh; Hội Cựu chiến binh tỉnh biên soạn biên niên sự kiện đến năm 2001; Uỷ Ban kiểm tra Tỉnh uỷ đã biên soạn lược sử đến năm 2003; Hội Nông dân tỉnh biên soạn lịch sử và Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đã biên soạn lược sử đến năm 2005; Sở Giáo dục và đào tạo biên soạn lịch sử ngành đến năm 1995 và đang triển khai chỉnh lý, biên soạn đến giai đoạn hiện nay; Trường chính trị tỉnh đã biên soạn xuất bản lịch sử đến năm 2007. Có 32/69 cơ quan, đơn vị thuộc các sở, ban, ngành đã biên soạn dưới dạng kỷ yếu truyền thống; một số cơ quan, đơn vị đang triển khai sưu tầm tư liệu, nghiên cứu, biên soạn lịch sử hoặc kỷ yếu của ngành mình.

2. Đối với các Đảng uỷ trực thuộc.

 - Đảng uỷ Khối cơ quan Dân chính Đảng tỉnh đã biên soạn lược sử đến năm 2004.

 - Đảng uỷ Bưu điện tỉnh đã biên soạn lịch sử đến năm 2004.

- Đảng uỷ Quân sự tỉnh đã biên soạn lịch sử đến năm 1975, hiện đang chuẩn bị triển khai biên soạn tiếp giai đoạn 1975 đến nay và chuẩn bị biên soạn “Lịch sử công tác Đảng-công tác chính trị tư tưởng lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc”.

- Đảng uỷ Công an tỉnh đã biên soạn, xuất bản biên niên sự kiện và biên soạn lịch sử đến năm 1975, hiện đang chuẩn bị xuất bản tiếp giai đoạn 1975-1996. Đảng uỷ Công an tỉnh chỉ đạo phòng Hậu cần, phòng Tham mưu biên soạn, xuất bản biên niên sự kiện lịch sử đến năm 2005, đồng thời tiếp tục đôn đốc, chỉ đạo các phòng còn lại của Công an tỉnh và Công an các huyện, thành, thị sưu tầm tư liệu để triển khai nghiên cứu, biên soạn biên niên sự kiện lịch sử.

3. Đối với các huyện, thành, thị.

- Đảng bộ thành phố Vĩnh Yên đã biên soạn sơ thảo lịch sử Đảng bộ thành phố đến năm 2004 chia thành 2 tập: Tập I giai đoạn 1928-1954 và Tập II giai đoạn 1955-2004.

- Đảng bộ huyện Yên Lạc đã biên soạn tập I giai đoạn 1930-1977 và đến nay đã chỉnh lý, bổ sung, biên soạn tiếp lịch sử Đảng bộ huyện đến năm 2005.

- Đảng bộ huyện Vĩnh Tường đã chỉnh lý, tái bản và biên soạn lịch sử Đảng bộ huyện tiếp đến năm 2003.

- Đảng bộ huyện Tam Dương đã biên soạn lịch sử Đảng bộ huyện đến năm 2000.

- Đảng bộ huyện Lập Thạch đã biên soạn lịch sử Đảng bộ huyện sơ thảo đến năm 2000 chia thành 3 tập: Tập I giai đoạn 1930-1954, Tập II giai đoạn 1954-1975 và Tập III giai đoạn 1975-2000.

- Đảng bộ huyện Mê Linh đã biên soạn lịch sử Đảng bộ huyện sơ thảo đến năm 1996.

- Đảng bộ huyện Bình Xuyên đã biên soạn lịch sử Đảng bộ huyện đến năm 2004 chia thành 2 tập: Tập I giai đoạn 1930-1977 và Tập II giai đoạn 1977-2004.

- Còn 2 đơn vị là huyện Tam Đảo và thị xã Phúc Yên do mới được tái lập cuối năm 2003 chưa biên soạn lịch sử riêng cho đơn vị mình. Hiện nay cả 2 đơn vị đang xây dựng kế hoạch triển khai nghiên cứu, biên soạn.

4. Đối với các xã, phường, thị trấn.

Theo báo cáo của các đơn vị, đến nay đã có 122/152 xã, phường, thị trấn (đạt trên 80%) đã biên soạn, xuất bản lịch sử đến từng giai đoạn khác nhau. Trong đó, viết đến thời điểm trước năm 1995 có 30 đơn vị; viết đến thời điểm trước n¨m 2000 cã 58 ®¬n vÞ; viết đến thời điểm trước năm 2005 là 34 đơn vị. Huyện Yên Lạc có 100% xã, thị trấn đã hoàn thành biên soạn, xuất bản lịch sử. Toàn tỉnh hiện còn 30 đơn vị chưa xuất bản lịch sử, trong đó có một số đơn vị đang triển khai nghiên cứu, biên soạn và dự kiến xuất bản vào cuối năm 2007, đầu năm 2008. Các đơn vị đến nay chưa xuất bản là:

- Thành phố Vĩnh Yên còn 4 phường: Liên Bảo, Đồng Tâm, Hội Hợp, Đống Đa.

- Thị xã Phúc Yên còn 4 xã, phường: Trưng Trắc, Trưng Nhị, Hùng Vương, Nam Viêm.

- Huyện Lập Thạch còn 4 xã: Bạch Lưu, Như Thuỵ, Triệu Đề, Tứ Yên.

- Huyện Tam Dương còn 3 xã: Đồng Tĩnh, Hướng Đạo, Hoàng Hoa.

- Huyện Tam Đảo còn 5 xã, thị trấn: Hồ Sơn, Hợp Châu, Minh Quang, Bồ Lý, Thị trấn Tam Đảo.

- Huyện Vĩnh Tường còn 8 xã, thị trấn: Việt Xuân, Bồ Sao, Phú Thịnh, Phú Đa, Nghĩa Hưng, Yên Lập, Kim Xá, Thị trấn Vĩnh Tường.

- Huyện Mê Linh còn 2 xã: Kim Hoa, Vạn Yên.

- Huyện Bình Xuyên còn 1 xã: Tân Phong.

III. CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN GIÁO DỤC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG.

Lịch sử Đảng bộ tỉnh, lịch sử các ngành, đoàn thể sau khi xuất bản được phát hành rộng rãi đến các đầu mối cơ sở, đơn vị, cơ quan, trường học trên địa bàn toàn tỉnh; công tác tuyên truyền giáo dục lịch sử địa phương, lịch sử truyền thống các ngành đã được tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Đã có một số huyện tổ chức được các cuộc thi tìm hiểu rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân về lịch sử Đảng bộ huyện, truyền thống của địa phương mình như Đảng bộ huyện Bình Xuyên, Đảng bộ huyện Lập Thạch. Cấp uỷ các huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh đã chỉ đạo đưa lịch sử địa phương giảng dạy trong nhà trường, tuy nhiên, giữa các trường việc tổ chức giảng dạy còn chưa thống nhất, chưa được thường xuyên. Đến nay có huyện Yên Lạc đã biên soạn đề cương lịch sử Đảng bộ địa phương huyện thống nhất giảng dạy trong khối trường học THCS và THPT. Thường trực Tỉnh uỷ đã chỉ đạo trong năm học 2008-2009, ngành giáo dục đào tạo Vĩnh Phúc sẽ hoàn thành việc triển khai thống nhất nội dung dạy và học lịch sử địa phương trong hai cấp học THCS và THPT.

Kết quả công tác tuyên truyền, giáo dục lịch sử địa phương những năm qua đã giúp cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nâng cao nhận thức và lòng tự hào về Đảng, về truyền thống lịch sử và những thành tựu đạt được của quê hương Vĩnh Phúc dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, góp phần bồi đắp lý tưởng cách mạng, nhân cách sống và ý chí vươn lên của các tầng lớp nhân dân.

IV. VỀ TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG.

Đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng trên địa bàn tỉnh phần nhiều đã được đào tạo cơ bản đúng chuyên ngành lịch sử, nhiều đồng chí có thời gian công tác lâu năm có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu, biên soạn và tổng kết lịch sử Đảng, cơ bản đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của ngành.

Ở tỉnh, phòng Lịch sử Đảng của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ được biên chế 3 đồng chí, nhưng hiện nay mới có 1 trưởng phòng, 1 chuyên viên, do đồng chí phó Ban phụ trách, thường xuyên có sự thay đổi lãnh đạo Ban phụ trách ở lĩnh vực này.

 Ở cấp huyện và các Đảng uỷ trực thuộc đã được tăng cường bổ sung và bố trí cán bộ phụ trách theo dõi công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương, lịch sử ngành. Đáng chú ý là một số đơn vị đã được quan tâm bố trí cán bộ có trình độ chuyên môn cơ bản về ngành lịch sử phụ trách công tác lịch sử như: Lập Thạch, Vĩnh Tường, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Công an tỉnh. Còn lại một số đơn vị chưa được quan tâm về việc bố trí cán bộ lãnh đạo phụ trách công tác lịch sử có trình độ chuyên môn về ngành lịch sử Đảng. Một số cán bộ mới được bổ sung vào ngành còn trẻ, có tinh thần nhiệt tình và có trình độ năng lực tiếp cận công việc. Trong quá trình tổ chức nghiên cứu, biên soạn, các cấp uỷ Đảng đã phối hợp với một số cán bộ đã nghỉ hưu nhưng có trình độ, khả năng và kinh nghiệm nghiên cứu, biên soạn lịch sử. Tuy đã được tăng cường về số lượng, nhưng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu lịch sử Đảng trên địa bàn tỉnh hiện nay vẫn còn thiếu so với yêu cầu nhiệm vụ, nhất là ở cấp huyện, thành, thị. Đa số cán bộ được phân công phụ trách công tác lịch sử Đảng không được đào tạo chuyên môn về lịch sử và cũng chưa có nhiều kinh nghiệm ở lĩnh vực này.

Ở các xã, phường, thị trấn, công tác lịch sử Đảng bộ địa phương do đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Đảng uỷ phụ trách, nhưng hầu hết các đồng chí không có chuyên môn về ngành lịch sử Đảng. Đây cũng là vấn đề khó khăn cho quá trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử của Đảng bộ cơ sở trong những năm qua.

V. VỀ TRANG BỊ, CHẾ ĐỘ VÀ ĐẦU TƯ CHO NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN LỊCH SỬ Ở ĐỊA PHƯƠNG.

- Hiện nay tỉnh cũng như các huyện, thành, thị; các Đảng uỷ trực thuộc, cán bộ làm công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử mới được trang bị máy vi tính để làm việc. Các thiết bị cần thiết khác như máy ảnh, máy ghi âm, máy in... vẫn chưa được trang bị.

- Chế độ bồi dưỡng, phụ cấp động viên cán bộ làm công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử các cấp trong tỉnh hiện nay chưa có. Trong khi đó để biên soạn được một bản thảo cuốn sách lịch sử, cán bộ nghiên cứu phải đi lại nhiều nơi, phải đầu tư nhiều thời gian để tìm tòi, khai thác, nghiên cứu nhiều loại tư liệu, tài liệu khác nhau thì mới có được những tư liệu cụ thể chính xác của lịch sử.

- Về đầu tư kinh phí, từ sau tái lập tỉnh, Tỉnh uỷ và các cấp uỷ, chính quyền đã có sự quan tâm đầu tư kinh phí cho công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương, lịch sử truyền thống của các ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang. Tuy nguồn kinh phí còn hạn chế, nhưng các cấp, các ngành đã có sự quan tâm bố trí kịp thời ngân sách phục vụ cho việc biên soạn, xuất bản lịch sử hàng tỷ đồng. Tuy nhiên, cũng còn một số đơn vị còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí, chưa có khả năng tổ chức biên soạn, xuất bản lịch sử, đặc biệt là những xã, phường, thị trấn kinh tế còn khó khăn.

VI. ƯU ĐIỂM, KHUYẾT ĐIỂM, NGUYÊN NHÂN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT.

1. Ưu điểm.

Sau 10 năm tái lập tỉnh, nhất là 5 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 15 ngày 28-8-2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) và Thông tri số 33 ngày 30-7-2003 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, nhận thức của các cấp uỷ Đảng đối với công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ các cấp, lịch sử truyền thống của các ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh đã có sự chuyển biến tích cực và được quan tâm đầu tư mọi mặt. Việc tổ chức triển khai sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn, xuất bản lịch sử của Đảng bộ các cấp, các ngành đạt được nhiều kết quả rất đáng khích lệ, là một trong những tỉnh có số lượng xuất bản sách lịch sử nhiều so với toàn quốc. Các ấn phẩm lịch sử sau khi xuất bản được phát hành rộng rãi, nhất là Lịch sử Đảng bộ tỉnh đã được phát hành đến một số cơ quan, ban, ngành ở Trung ương, các tỉnh, thành phố trong cả nước và đến tận các xã, phường, thị trấn, trường học, trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn tỉnh. Công tác tuyên truyền, giáo dục lịch sử địa phương đã được một số Đảng bộ huyện, cấp uỷ cơ sở chú ý triển khai với nhiều hình thức khác nhau.

Nhìn chung các ấn phẩm lịch sử đã xuất bản, nhất là mới biên soạn, xuất bản trong những năm gần đây, nội dung, hình thức và chất lượng ngày càng được nâng cao rõ rệt. Kết quả nghiên cứu, biên soạn và tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng bộ các cấp, lịch sử truyền thống của các ngành trên địa bàn toàn tỉnh đã góp phần quan trọng trong việc tổng kết sự lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ tỉnh và trong công tác tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống cách mạng của quê hương cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là lực lượng đoàn viên thanh niên, học sinh.

2. Khuyết điểm.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác nghiên cứu, biên soạn, xuất bản và công tác tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng bộ địa phương còn một số mặt hạn chế: một số đơn vị cấp xã, phường và một số huyện, thị chưa đầu tư nhiều thời gian cho việc nghiên cứu, biên soạn. Sách xuất bản còn sơ sài về hình thức và mắc nhiều lỗi sai sót cả về tư liệu, sự kiện, đặc biệt là chưa có tính khái quát tổng hợp cao, chưa tổng kết và rút ra được bài học kinh nghiệm quý báu trong việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng và Đảng bộ... có đơn vị viết sách lịch sử như bản báo cáo chính trị. Việc tổ chức toạ đàm hội thảo nhiều nơi còn mang hình thức chưa thực hiện đúng quy trình, đúng đối tượng tham gia hội thảo toạ đàm, kết luận các vấn đề trong hội thảo, toạ đàm thiếu căn cứ khoa học và không rõ ràng.... Những hạn chế đó phần nào đã làm giảm giá trị chất lượng của ấn phẩm lịch sử, chưa đáp ứng được yêu cầu tổng kết lịch sử của Đảng bộ ở địa phương và của ngành....

Đến nay, tuy số lượng nhiều ấn phẩm lịch sử đã được biên soạn, song phần nhiều mới ở dạng sơ thảo, xuất bản lần đầu tiên hoặc ở nhiều giai đoạn khác nhau chưa đồng đều nhưng chưa có điều kiện để chỉnh lý, tái bản lại. Nhiều đơn vị mới biên soạn đến thời điểm trước năm 1995, chưa triển khai nghiên cứu, biên soạn tiếp đến giai đoạn hiện nay.

Có những đơn vị khi biên soạn, xuất bản chưa tuân thủ quy trình thẩm định nội dung của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ theo tinh thần Chỉ thị 15 của Trung ương và Thông tri 33 của Tỉnh uỷ. Nhiều đơn vị, nhất là cấp xã, phường hiện nay công tác lưu trữ lịch sử  không được chú ý, có những đơn vị sau khi xuất bản lịch sử một thời gian ngắn đã không còn lưu giữ được ở cơ quan cấp uỷ địa phương. Nhiều sở, ngành thuộc khối nhà nước ít quan tâm đến việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử truyền thống của ngành mình, đa số mới làm kỷ yếu đơn giản. Đến nay, toàn tỉnh còn 2/7 huyện, thị; 30/152 xã phường, thị trấn chưa hoàn thành việc nghiên cứu, biên soạn, xuất bản lịch sử; Đảng uỷ quân sự mới biên soạn đến năm 1975, Đảng uỷ Công an tỉnh đang triển khai nghiên cứu, biên soạn lịch sử giai đoạn 1975-1996, chuẩn bị xuất bản.

Việc đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất và các điều kiện để phục vụ cho việc nghiên cứu, biên soạn, xuất bản ở một số xã, phường, thị trấn và một số huyện, thị, sở, ngành còn gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ công tác ở lĩnh vực này nhiều đơn vị chưa được bố trí đồng bộ, thiếu về số lượng, năng lực của cán bộ còn hạn chế nhiều mặt.

Công tác tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng bộ địa phương nhìn chung chưa được quan tâm đúng mức, nhất là việc đưa lịch sử Đảng bộ địa phương vào giảng dạy trong các trường học chưa được thống nhất về nội dung và cách thức tiến hành, đến nay đã 5 năm thực hiện Chỉ thị 15 nhưng Sở Giáo dục và Đào tạo vẫn chưa tổ chức biên soạn giáo trình lịch sử địa phương để đưa vào giảng dạy ở các trường học phổ thông trên địa bàn tỉnh.

3. Nguyên nhân của những hạn chế nói trên:

- Một số cấp uỷ Đảng chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, biên soạn, xuất bản, tuyên truyền giáo dục và tổng kết lịch sử của Đảng bộ như Chỉ thị 15 của Trung ương và Thông tri 33 của Tỉnh uỷ đã nêu, nên chưa thực sự quan tâm và coi trọng đúng mức đến lĩnh vực này.

- Trong tổ chức triển khai nghiên cứu, biên soạn một số đơn vị chưa tuân thủ theo đúng quy trình, quy định, thiếu thận trọng, chặt chẽ trong xử lý tài liệu, thông tin và ý kiến tham gia, kết luận trong hội thảo. Chưa kết hợp đầy đủ các phương pháp khoa học trong nghiên cứu, biên soạn, xuất bản và lưu trữ...

- Trình độ của một số cán bộ nghiên cứu, biên soạn còn hạn chế nhiều mặt cả về chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm thực tiễn. Mặt khác, địa bàn hành chính từ tỉnh, huyện đến các xã, phường, thị trấn do có sự thay đổi về việc sáp nhập và chia tách; nhân chứng lịch sử còn lại quá ít, hoặc nếu còn sống thì cũng là các đồng chí tuổi cao, trí nhớ bị hạn chế. Do đó cũng khó khăn cho việc sưu tầm, biên soạn lịch sử.

- Công tác lưu trữ tài liệu ít được chú ý quan tâm ngay từ đầu, làm thất lạc tài liệu ảnh hưởng nhiều đến công tác nghiên cứu, biên soạn. Có một số đơn vị ngay sau khi xuất bản lưu hành chỉ trong thời gian ngắn nhưng cũng không còn lưu giữ được.

- Công tác quản lý nhà nước và việc thẩm định nội dung từ trung ương đến cơ sở chưa được chặt chẽ, chưa có sự phối hợp thống nhất và đồng bộ giữa các cơ quan chuyên môn.

- Một số sở, ngành thuộc khối nhà nước chưa quan tâm đầy đủ đúng mức cho việc nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn và xuất bản sách lịch sử truyền thống của ngành mình. Việc đầu tư cơ sở vật chất và kinh phí cho công tác nghiên cứu, sưu tầm biên soạn và xuất bản nhiều nơi chưa được quan tâm và còn gặp nhiều khó khăn.

4. Bài học kinh nghiệm.

Trong quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chỉ thị 15 của Trung ương và Thông tri 33 của Tỉnh uỷ về công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng, lịch sử các ngành trên địa bàn tỉnh, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

1. Phải thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp uỷ Đảng đối với công tác nghiên cứu, biên soạn, xuất bản và công tác tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng bộ địa phương, lịch sử truyền thống các ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang trong tỉnh. Thực tế cho thấy, ở đâu cấp uỷ Đảng, chính quyền có nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức thì ở đó làm tốt công tác này.

2. Ở từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, bộ phận chuyên môn cần tích cực chủ động tham mưu với cấp uỷ, chính quyền triển khai nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng, lịch sử ngành theo đúng kế hoạch và đúng quy trình hướng dẫn của cấp trên. Trong quá trình thực hiện cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan, nhất là cơ quan chuyên môn cấp trên, trực tiếp chỉ đạo thì sẽ có kết quả tốt hơn.

3. Ban Tuyên giáo các cấp là cơ quan tham mưu giúp cấp uỷ phải thường xuyên tăng cường việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện Chỉ thị 15 của Trung ương và Thông tri 33 của Tỉnh uỷ ở các cấp, kịp thời tham mưu với các cấp uỷ chỉ đạo các Đảng bộ, Đảng uỷ trực thuộc và các đoàn thể tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện chỉ thị.

4. Khi triển khai nghiên cứu, biên soạn, xuất bản lịch sử, các cấp uỷ  Đảng, các ngành phải tuân thủ thực hiện đúng các quy định, hướng dẫn của cấp trên, có nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ trong tất cả các khâu, các bước từ việc nghiên cứu sưu tầm, toạ đàm, hội thảo, thẩm định nội dung, biên soạn và xuất bản đến việc phát hành, lưu trữ, tuyên truyền, giáo dục truyền thống.

5. Các điều kiện phục vụ cho việc nghiên cứu, biên soạn, xuất bản lịch sử phải được bảo đảm đầy đủ cả về điều kiện con người, cơ sở vật chất và kinh phí....

5. Kiến nghị và đề xuất.

1. Đề nghị Ban Bí thư Trung ương cần sớm có chỉ thị, hướng dẫn cụ thể về việc lãnh đạo, chỉ đạo, nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn, xuất bản, tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng, lịch sử truyền thống của các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương bảo đảm tính thống nhất, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay.

2. Viện Lịch sử Đảng, Học Viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh không có chức năng quản lý Nhà nước, cho nên việc giao cho đơn vị này quản lý lãnh đạo, chỉ đạo hướng dẫn cho tất cả các ngành, các cấp trong cả nước thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương là không phù hợp. Vậy Ban Bí thư Trung ương cần nghiên cứu có thể giao cho Ban Tuyên giáo Trung ương thì phù hợp hơn.

3. Ban Bí thư Trung ương cần có sự chỉ đạo, hướng dẫn thống nhất về phương pháp nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng đối với các tỉnh, thành phố, huyện, thị... trong thời kỳ hợp nhất và cả trong thời kỳ chia tách.

4. Hằng năm cơ quan quản lý ngành dọc về lịch sử Đảng cần sơ kết, tổng kết kịp thời và thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm công tác lịch sử Đảng của cấp tỉnh và cấp huyện.

5. Ban Bí thư Trung ương cần có quy định, hướng dẫn cụ thể về chế độ chính sách, điều kiện làm việc, tiêu chuẩn cán bộ làm công tác của ngành lịch sử đối với cấp tỉnh, huyện và cơ sở.

PHẦN THỨ HAI
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐẾN NĂM 2010

I. PHƯƠNG HƯỚNG.

Cấp uỷ, chính quyền các cấp, các cơ quan, đơn vị, các ngành cần tiếp tục quán triệt sâu rộng về Chỉ thị 15 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thông tri số 33 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ để có nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng, lịch sử các ngành trên địa bàn tỉnh. Đồng thời phải thường xuyên thực hiện tốt công tác tuyên truyền giáo dục lịch sử truyền thống cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; những đơn vị chưa sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử cần sớm có kế hoạch triển khai. Phấn đấu đến năm 2010 đạt 100% Đảng bộ các cấp hoàn thành biên soạn, xuất bản lịch sử, trong đó 70% biên soạn đến năm 2000 hoặc 2005; 100% các sở, ban, ngành hoàn thành biên soạn kỷ yếu hoặc lược sử, trong đó 40% biên soạn lịch sử đến năm 2005; 100% Đảng uỷ trực thuộc hoàn thành biên soạn lịch sử đến năm 2005. Cấp uỷ, chính quyền các cấp cần có sự quan tâm đầu tư kinh phí, bố trí đủ số lượng biên chế  cán bộ có năng lực chuyên môn ở lĩnh vực này để đáp ứng với yêu cầu của việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng, lịch sử truyền thống của các ngành, các cấp....

II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP.

1. Nhiệm vụ.

- Các cấp uỷ Đảng từ tỉnh đến cơ sở cần thường xuyên bám sát chức năng nhiệm vụ tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị 15 và các văn bản hướng dẫn của trung ương và của tỉnh.

- Ban Tuyên giáo các cấp là cơ quan chuyên môn cần tích cực chủ động tham mưu với cấp uỷ cấp mình tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, đánh giá kết quả tổ chức thực hiện Chỉ thị 15 và các văn bản hướng dẫn của trung ương, của tỉnh. Khắc phục mọi khó khăn để tổ chức tốt việc nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn, xuất bản sách lịch sử của các cấp, các ngành đạt hiệu quả cao cả về số lượng và chất lượng.

- Các đơn vị biên soạn và xuất bản lịch sử cần phải tuân theo đúng các quy định, hướng dẫn của trung ương, của tỉnh đối với tất cả các khâu, các bước tiến hành như: việc nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, toạ đàm, hội thảo, biên soạn, thẩm định, xuất bản, tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng nói chung và lịch sử truyền thống của các ngành, các cấp nói riêng.

- Giao cho Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ phối hợp với các ngành, các cấp có liên quan nghiên cứu, biên soạn cuốn “Chân dung những tập thể anh hùng tỉnh Vĩnh Phúc qua các thời kỳ” (Hoàn thành trong năm 2008); nghiên cứu, biên soạn cuốn “Biên niên những sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1930-2010)” và triển khai xây dựng đề án, biên soạn “Lịch sử Đảng bộ điện tử tỉnh Vĩnh Phúc” (Đến năm 2010 hoàn thành). Tăng cường đôn đốc, kiểm tra, thẩm định nội dung giáo dục lịch sử của địa phương ở các trường học, cấp học trên địa bàn toàn tỉnh do Sở Giáo dục và Đào tạo biên soạn và đưa vào giảng dạy từ năm học 2008-2009.

- Các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang chưa viết lịch sử cần sớm triển khai nghiên cứu, sưu tầm để hoàn thành việc biên soạn, xuất bản vào cuối năm 2008. Những đơn vị đã sưu tầm và đang biên soạn cần khẩn trương hoàn thành vào giữa năm 2008, chậm nhất hoàn thành vào quý III năm 2008.

2. Giải pháp.

- Các cấp uỷ Đảng cần tiếp tục quán triệt kỹ các Chỉ thị và các hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh về việc “Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” để có nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nghiên cứu, biên soạn, xuất bản sách lịch sử Đảng, lịch sử truyền thống của các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh.

- Các ban chức năng tham mưu của cấp uỷ cần phối hợp chặt chẽ và tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, kịp thời hàng năm có sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả  việc tổ chức thực hiện các chỉ thị của cấp trên về lĩnh vực này.

- Các cấp uỷ Đảng, chính quyền cần có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, khắc phục mọi khó khăn và đầu tư thích đáng cả về con người và cơ sở vật chất, kinh phí cho việc nghiên cứu, biên soạn, xuất bản sách lịch sử của đơn vị mình bảo đảm chất lượng và hiệu quả cao.

- Các cấp uỷ Đảng, các trường học cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục lịch sử truyền thống của địa phương đến tất cả các tầng lớp nhân dân và đặc biệt là việc giáo dục đối với thế hệ trẻ.

Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị 15 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá IX và 4 năm thực hiện Thông tri 33 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, công tác nghiên cứu, biên soạn, xuất bản và tuyên truyền giáo dục lịch sử truyền thống địa phương trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có những chuyển biến tích cực cả về chiều rộng và chiều sâu. Nhận thức về công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang đã được nâng lên. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền và cán bộ làm công tác lịch sử Đảng đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, biên soạn, xuất bản và tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng bộ địa phương, lịch sử ngành. Số lượng các ấn phẩm lịch sử được xuất bản ngày càng tăng, chất lượng ngày càng nâng cao, đây là nguồn tư liệu quý đối với công tác nghiên cứu, tra cứu; phục vụ đắc lực cho việc tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, đóng góp tích cực và có hiệu quả thiết thực đối với công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nơi nhận:
- Viện Lịch sử Đảng (b/c);
- Thường trực Tỉnh uỷ;
- Lưu VP

T/M BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ
PHÓ BÍ THƯ

(đã ký)

Nguyễn Văn Chức