Trích báo cáo số 02 về Tổng kết về tổ chức và hoạt động của HĐND, tỉnh Vĩnh Phúc khóa XIV nhiệm kỳ 2004 - 2011

26/04/2011

HĐND TỈNH VĨNH PHÚC
_______ 

 

Số: 02/BC – HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_____________________
 

Vĩnh Yên, ngày 22 tháng 3 năm 2011

                               

TRÍCH BÁO CÁO TÓM TẮT

Tổng kết về tổ chức và hoạt động của HĐND, tỉnh Vĩnh Phúc

khóa XIV nhiệm kỳ 2004 - 2011

I - VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HĐND TỈNH

1. Về tổ chức của HĐND tỉnh

a) Đại biểu HĐND

- Tổng số đại biểu bầu ngày 25-4-2004 là 53 đại biểu, đến nay đang hoạt động là 45 đại biểu (giảm 08 bằng 15%, trong đó: Miễn nhiệm 01, chuyển công tác 06, từ trần 01). Đầu nhiệm kỳ cơ cấu đại biểu công tác: Đảng 9 bằng 19,6%, chính quyền 19 bằng 41,3%,  Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể 04 bằng 8,7%, lĩnh vực kinh tế 03 bằng 6,5%, thành phần khác 11 đại biểu bằng 23,9%. Đại biểu chuyên trách 04 bằng 7,5%; nữ: 10 bằng 21,7%; tôn giáo: 01 bằng 2,17%; dân tộc ít người: 02 bằng 4,35%; tái cử 12 bằng 26,09%. Trình độ chuyên môn: Đại học và trên đại học chiếm 88,7%; trình độ chính trị cao cấp và cử nhân chiếm 73,6%. Đến nay, cơ cấu có sự thay đổi: Đại biểu chuyên trách 03 giảm 01; đại biểu công tác: Đảng 6 bằng 13,3%; chính quyền: 16 bằng 35,6%; đoàn thể 3 bằng 6,6%.

Nhìn chung, đại biểu HĐND thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ và chịu sự giám sát của cử tri, gương mẫu, nêu cao trách nhiệm trước cử tri, tích cực tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành các chủ trương nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết của HĐND. Tham dự kỳ họp đạt tỷ lệ cao, trên 98%; trước và sau kỳ họp thực hiện tiếp xúc cử tri đầy đủ, ý kiến, kiến nghị được tổng hợp, chuyển tải đầy đủ đến các cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết. Đại biểu HĐND đã tăng cường giám sát và tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc mà xã hội và cử tri quan tâm. Một số đại biểu HĐND ở cơ sở đã tham gia hoạt động giám sát của Thường trực, các Ban HĐND tỉnh như đại biểu ở huyện Yên  Lạc, Mê Linh, Phúc Yên. Công tác tiếp dân, đa số đại biểu thực hiện lồng ghép vào các ngày tiếp dân ở cơ quan, đơn vị nơi công tác.

Tuy nhiên, một số đại biểu chưa dành nhiều thời gian cho hoạt động của HĐND, hoạt động còn lúng túng, có đại biểu cả nhiệm kỳ chưa một lần phát biểu, thảo luận, chất vấn. Đại biểu có hiểu biết nhưng vẫn còn biểu hiện né tránh, ngại va chạm; có nơi, có lúc tiếp xúc cử tri còn hình thức, hiệu quả chưa cao. Tham gia giám sát giữa hai kỳ họp còn ít.

b) Thường trực HĐND

Kỳ họp thứ nhất HĐND tỉnh bầu Thường trực HĐND gồm Chủ tịch , Phó Chủ tịch và Uỷ viên Thường trực, Chủ tịch HĐND là Bí thư Tỉnh uỷ, Bí thư Đảng Đoàn HĐND, Phó Chủ tịch và Uỷ viên Thường trực hoạt động chuyên trách. Từ kỳ họp thứ 12 Ủy viên Thường trực HĐND kiêm Trưởng Ban Văn hóa- Xã hội HĐND tỉnh. Tháng 6-2010 Chủ tịch HĐND tỉnh chuyển công tác. Kỳ họp thứ 19, HĐND tỉnh bầu bổ sung Phó Bí thư Tỉnh ủy là Chủ tịch HĐND tỉnh. Từ tháng 10-2010 cho đến nay Chủ tịch HĐND tỉnh hoạt động chuyên trách.

Trong nhiệm kỳ, Thường trực HĐND tỉnh đã bám sát quy định của pháp luật, chủ động triển khai kịp thời, có hiệu quả chức năng nhiệm vụ được giao. Kịp thời xây dựng quy chế hoạt động của Thường trực HĐND. Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình công tác đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; Phối hợp chặt chẽ với UBND, các Ban HĐND, Uỷ ban MTTQ tỉnh trong việc chuẩn bị kỳ họp, giám sát, tiếp xúc cử tri. Tổ chức điều hành kỳ họp luôn cải tiến theo hướng  phát huy dân chủ, khai thác trí tuệ tập thể và đại biểu dự kỳ họp. Công tác giữ mối liên hệ với đại biểu, Tổ đại biểu được duy trì thường xuyên. Thực hiện thông tin, báo cáo đảm bảo, kịp thời theo quy định; các hoạt động chung của địa phương tham gia tích cực.

Tuy nhiên còn có hạn chế: Một số kỳ họp nội dung chuẩn bị còn bị động, đưa vào chương trình kỳ họp chậm so với quy định; điều hòa, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có lúc, có việc còn chưa khoa học. Giám sát sau kỳ họp chưa nhiều, có nội dung chưa sâu, theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận chưa tích cực.

c) Các Ban HĐND

- Ban Kinh tế - Ngân sách: Đầu nhiệm kỳ 07 thành viên, trong đó Trưởng Ban hoạt động chuyên trách. Đến nay còn 05 thành viên, trong đó 04 hoạt động kiêm nhiệm.

- Ban Văn hoá - Xã hội: Đầu nhiệm kỳ 07 thành viên, trong đó Trưởng Ban hoạt động chuyên trách từ tháng 3/2008 đến nay còn 05 thành viên hoạt động kiêm nhiệm.

- Ban Pháp chế: Gồm 07 thành viên hoạt động kiêm nhiệm. Từ tháng 7/2006 đến nay còn 06 thành viên, không có Trưởng Ban do chuyển công tác, chỉ có 01 Phó Ban hoạt động kiêm nhiệm.

Trong điều kiện hầu hết Trưởng, Phó, thành viên các Ban của HĐND hoạt động kiêm nhiệm song dưới sự chỉ đạo, điều hoà, phối hợp của Thường trực HĐND tỉnh, mỗi thành viên Ban đã nêu cao ý thức trách nhiệm nên cơ bản các Ban thực hiện nhiệm vụ đúng chức năng quyền hạn theo quy định,  phát huy tinh thần tập thể. Tham gia xây dựng nội dung kỳ họp, tổ chức thẩm tra, giám sát theo kế hoạch. Cung cấp nhiều thông tin phản biện tại kỳ họp, phát hiện được nhiều khó khăn, vướng mắc, hạn chế; đề xuất kịp thời giải pháp khắc phục.

Tuy nhiên, thành viên Ban hoạt động kiêm nhiệm nhiều nên chưa chủ động và dành nhiều thời gian cho hoạt động của HĐND; cá biệt có thành viên ban 1 năm không tham gia cuộc giám sát nào. Hoạt động giao ban định kỳ cua các ban chưa thường xuyên.

d) Tổ đại biểu:

- Đầu nhiệm kỳ: Có 9 tổ đại biểu tổ chức theo 9 đơn vị hành chính cấp huyện, mỗi Tổ có từ 3 đến 9 đại biểu; cơ cấu gồm Tổ trưởng, Tổ phó và các đại biểu. Tháng 3/2008 huyện Mê Linh chuyển về Hà Nội; tháng 01-2009 huyện Lập Thạch tách thành hai huyện, một số đại biểu chuyển công tác. Trong nhiệm kỳ 2 lần sắp xếp, điều chỉnh các Tổ đại biểu đảm bảo kịp thời và phù hợp với thực tế.

Nhìn chung, các Tổ đại biểu thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ. Trước, sau mỗi kỳ họp phối hợp chặt chẽ với Thường trực HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, xã tổ chức tiếp xúc cử tri. Trước kỳ họp họp Tổ đánh giá kết quả hoạt động, bàn nhiệm vụ và thảo luận đóng góp ý kiến vào nội dung trình HĐND. Tuy nhiên, một số Tổ chưa duy trì họp thường xuyên, có nơi thực hiện còn hình thức. Tổ chức tiếp xúc cử tri trước, sau kỳ họp chậm. Có tổ HĐND báo cáo kết quả tiếp xúc cử tri chưa đúng thời gian quy định.

2. Về hoạt động của HĐND

a) Thực hiện chức năng của HĐND

* Về quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương:

          Trong nhiệm kỳ HĐND tỉnh đã thông qua 229 nghị quyết, trong đó: Có 111 nghị quyết chuyên đề. Các nghị quyết HĐND ban hành đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo Luật định; nội dung nghị quyết cụ thể hoá kịp thời chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; cơ bản phù hợp với thực tế địa phương, được nhân dân ủng hộ. Nhiều nghị quyết đi vào cuộc sống và đạt hiệu quả cao như: Nghị quyết quy định một số chính sách hỗ trợ đối với hộ nghèo, người nghèo, thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng khó khăn; về kiên cố hoá kênh mương; về giao thông nông thôn; về thu hút đầu tư; về miễn thuỷ lợi phí cho nông dân; hỗ trợ thu nhập cho các hộ gia đình và cá nhân và các xã khi Nhà nước thu hồi hồi đất nông nghiệp; về hỗ trợ giáo dục mầm non v.v... Nghị quyết chuyên đề nội dung phức tạp, được tổ chức thẩm tra kỹ, khảo sát thực tế, tổ chức tiếp xúc cử tri theo chuyên đề; thực hiện tham vấn ý kiến nhân dân trước khi thảo luận quyết định tại kỳ họp như vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Nội dung, ý kiến khác nhau, HĐND tỉnh đã vận dụng linh hoạt, giao cho UBND tỉnh thực hiện thí điểm trước khi HĐND quyết định trên phạm vi rộng . Sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo của HĐND tỉnh đã giúp UBND triển khai kịp thời nghị quyết của HĐND tỉnh, và  giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề xã hội quan tâm.

Tuy nhiên, một số nghị quyết HĐND ban hành chưa sát với nguồn lực, giải pháp chưa cụ thể, chậm đi vào cuộc sống, hiệu quả chưa cao, như: Nghị quyết về hỗ trợ mở rộng xây dựng nhà văn hoá; mở rộng khuôn viên trường học; về hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi, xây dựng khu sản xuất tập trung; về đất dịch vụ… Các nhiệm vụ mới khi không tổ chức HĐND huyện đã thực hiện đầy đủ, song có nội dung quy định còn hình thức; thẩm tra thảo luận chưa nhiều trước khi quyết định.

* Về hoạt động giám sát

Thường trực HĐND, các Ban HĐND đã xây dựng kế hoạch, thực hiện giám sát theo đúng quy trình, thủ tục. Nội dung giám sát có trọng tâm, trọng điểm, bám sát những vấn đề thực tế xã hội quan tâm. Phạm vi giám sát luôn mở rộng. Hình thức giám sát đa dạng, phù hợp với thực tế và nội dung giám sát như: Tổ chức tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo, yêu cầu cơ quan bị giám sát báo cáo, tổ chức nhiều đoàn giám sát tại cơ sở trước khi yêu cầu cơ quan trách nhiệm giải trình; giám sát tại kỳ họp… Kết luận giám sát rõ ràng, yêu cầu, kiến nghị cụ thể. Quyền giám sát của HĐND được các đại biểu, các Ban, Thường trực HĐND sử dụng linh hoạt góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát.

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay: HĐND đã thực hiện 118 đợt giám sát giữa 2 kỳ họp ở 472 cơ quan, đơn vị, tổ chức. Trong đó: Thường trực HĐND tỉnh 28 đợt; Ban Kinh tế - Ngân sách 38 đợt; Ban Văn hóa - Xã hội 24 đợt; Ban Pháp chế 28 đợt. Tập trung vào việc thực hiện pháp luật, các nghị quyết HĐND tỉnh. Giám sát thông qua tiếp xúc cử tri có 454 ý kiến kiến nghị, được chuyển và đôn đốc các cơ quan chức năng giải quyết được 405 ý kiến bằng 89%; thông qua tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân: Đã nhận được 341 đơn đã phân loại, chuyển và xử lý, đôn đốc các cơ quan chức năng giải quyết đạt 100%, trong đó có 137 đơn trùng lắp, quá thời hạn giải quyết theo quy định. Giám sát tại kỳ họp duy trì theo định kỳ thông qua việc xem xét, thảo luận các báo cáo; chất vấn trực tiếp và giám sát chuyên đề. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay thực hiện chất vấn 335 nội dung; 4 kỳ họp giám sát 8 chuyên đề, đã góp phần giải quyết được nhiều vấn đề bức xúc, xã hội quan tâm.

 Tổ chức tái giám sát những nội dung yêu cầu, kiến nghị chậm thực hiện, thông qua: Chuyên mục Tiếng nói cử tri và đại biểu nhân dân trên Đài PTTH tỉnh phát vào các ngày 11, 12, 18, 19 hàng tháng từ năm 2007 đến nay; thực hiện thí điểm điều trần, trong hai năm 2009 - 2010 tổ chức được 7 cuộc điều trần đã đề nghị giải quyết được 7 vụ việc về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Tam Đảo; xây dựng nghĩa trang liệt sĩ ở Quất Lưu - Bình Xuyên; hỗ trợ xây dựng giao thông nông thôn ở Sông Lô…

 Về kinh tế - tài chính, Thường trực, Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh đã tổ chức giám sát ngay từ khâu đầu của quy trình UBND tỉnh ban hành quyết định; từ năm 2006 đến nay, bình quân mỗi năm ban hành 12 văn bản cho ý kiến trên 100 nội dung, và đã phát hiện, đề nghị điều chỉnh hơn 30 vấn đề chưa phù hợp, giúp UBND tỉnh quyết định đúng luật, sát thực tế.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong hoạt động giám sát: Số lượng, quy mô và phạm vi giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu của cử tri; công tác phối hợp giám sát của các tổ chức HĐND với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương còn chưa thường xuyên, có đợt hiệu quả thấp. Tổ đại biểu, đại biểu HĐND tỉnh chưa làm được chức năng giám sát; việc theo dõi, đôn đốc các cơ quan, cá nhân thực hiện kết luận sau giám sát chưa thường xuyên.

b) Về kỳ họp HĐND

* Công tác chuẩn bị: Thường trực HĐND tỉnh luôn chủ động phối hợp  chặt chẽ với UBND, Ủy ban MTTQ, các Ban HĐND và các ngành hữu quan thống nhất trình nội dung các chương trình kỳ họp HĐND trong năm ngay từ kỳ họp cuối năm trước; trước mỗi kỳ họp kịp thời điều chỉnh bổ sung phân công rõ trách nhiệm từng cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chuẩn bị. Gửi giấy mời, giấy triệu tập kỳ họp, tài liệu đúng thời gian.  Các Ban tổ chức phối hợp thẩm tra theo đúng quy trình và chặt chẽ. Thường xuyên phối hợp với các cơ quan soạn thảo chuyên đề ngay từ khâu đầu của quá trình xây dựng để có ý kiến kịp thời, nên quan điểm của cơ quan soạn thảo và thẩm tra của các Ban cơ bản đa số thống nhất trước khi trình HĐND. Báo cáo thẩm tra đã nêu rõ cơ sở pháp lý và thực tiễn, quan điểm của Ban để đại biểu thảo luận và quyết định tại kỳ họp. Nội dung thẩm tra và thảo luận ở các Tổ đại biểu có ý kiến khác nhau, Thường trực HĐND tỉnh tổng hợp, báo cáo Đảng Đoàn HĐND cho ý kiến để thống nhất. Hình thức giám sát chất vấn trực tiếp tại kỳ họp, Thường trực HĐND tỉnh vận dụng sáng tạo theo hướng yêu cầu đại biểu gửi chất vấn trước ngày khai mạc kỳ họp hơn 10 ngày yêu cầu Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm trả lời bằng văn bản tại kỳ họp.

* Về hoạt động tại kỳ họp: Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND tỉnh tổ chức 23 kỳ họp, trong đó 03 kỳ họp bất thường, 03 kỳ họp chuyên đề; các kỳ họp thường kỳ được tổ chức từ 2 đến 3 ngày theo đúng thời gian và các nội dung quy định, có truyền hình trực tiếp trên sóng PTTH tỉnh.

Chương trình kỳ họp được sắp xếp khoa học giảm thời gian đọc các văn bản, dành nhiều thời gian thảo luận chất vấn tại kỳ họp, thông qua nghị quyết luôn được cải tiến, biểu quyết từng vấn đề có phương án khác với cơ quan trình trước khi biểu quyết toàn văn. Do vậy, mỗi kỳ họp dành được gần 50% quỹ thời gian thảo luận, chất vấn; bình quân 1 kỳ họp thông qua được trên 10 nghị quyết.

Phiên họp thảo luận, chất vấn được cải tiến theo  hướng phát huy dân chủ, mời đại biểu dự kỳ họp nhiều gấp 3 lần tổng số đại biểu HĐND; khuyến khích đại biểu dự phát biểu, phản ánh tình hình thực tế để Thường trực HĐND yêu cầu Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm giải trình và trả lời tại kỳ họp. Do vậy, các kỳ họp HĐND đã tạo ra không khí sôi động, dân chủ, thẳng thắn và trách nhiệm, thu hút đông đảo đại biểu và cử tri quan tâm theo dõi. Bình quân mỗi kỳ họp có 7 đại biểu đại diện cho tổ đại biểu phát biểu thảo luận, có trên 10 lượt đại biểu chất vấn trực tiếp tại kỳ họp. Những vấn đề trả lời chất vấn đã hứa HĐND đưa vào nghị quyết nhiệm vụ để tiếp tục giám sát đã có hiệu quả.

Tuy nhiên, kỳ họp HĐND còn một hạn chế đó là: Một số báo cáo, đề án chuẩn bị chậm; một số nội dung thẩm tra chưa kỹ, thiếu những thông tin cần thiết để các đại biểu thảo luận nên có nghị quyết của HĐND được thông qua song một số nghị quyết phải điều chỉnh, bổ sung mới đi vào cuộc sống (15 nghị quyết); việc gửi tài liệu đại biểu nghiên cứu trước kỳ họp còn chậm, có kỳ họp chưa đầy đủ; một số đại biểu chưa phát huy được vai trò, trách nhiệm (cả nhiệm kỳ gần 30% đại biểu chưa phát biểu tại kỳ họp). Thực hiện lời hứa ở các phiên chất vấn và trả lời chất vấn, nhiều nội dung thực hiện thiếu nghiêm túc.

c) Về mối quan hệ của HĐND với các cơ quan, tổ chức hữu quan: Nhiệm kỳ qua, HĐND tỉnh đã bám sát Quy chế phối hợp công tác giữa HĐND với Đoàn ĐBQH, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh để thực hiện chức năng, nhiệm vụ. HĐND luôn đảm bảo sự lãnh đạo của Tỉnh ủy thông qua Đảng Đoàn HĐND. Những vấn đề quan trọng đề nghị UBND tỉnh báo cáo Tỉnh uỷ trước khi trình kỳ họp. Khi có chủ trương của cấp uỷ, Đảng Đoàn HĐND tỉnh đã lãnh đạo HĐND ra nghị quyết. Quá trình thẩm tra, thảo luận có vấn đề khác với chủ trương, Đảng Đoàn HĐND chủ động, kịp thời đề xuất xin ý kiến chỉ đạo để tổ chức và hoạt động của HĐND phù hợp với thực tế ở địa phương.

Với Ủy ban nhân dân tỉnh, Thường trực HĐND và các Ban của HĐND đã phối hợp chặt chẽ trong việc chuẩn bị kỳ họp, thực hiện thẩm tra, giám sát và các hoạt động chung của tỉnh, các điều kiện vật chất, kỹ thuật phục vụ kỳ họp; tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân.

Với Ủy ban MTTQ tỉnh phối hợp chặt chẽ trong các hoạt động tiếp xúc cử tri, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri trước, sau mỗi kỳ họp; đóng góp ý kiến về xây dựng chính quyền, tham gia hoạt động giám sát, thẩm tra, khảo sát về các vấn đề có liên quan.

Với Đoàn ĐBQH đã phối hợp tổ chức giám sát đạt hiệu quả; tham gia công tác tiếp xúc cử tri trước, sau các kỳ họp Quốc hội HĐND; tham gia lấy ý kiến về các Dự án luật; tham dự các kỳ họp của Quốc hội, HĐND tỉnh; phối hợp xây dựng chuyên mục Hội nghị tọa đàm với ĐBQH trên Đài PTTH tỉnh.

Thường trực, các Ban, Tổ đại biểu HĐND tỉnh, đã phối hợp với các cấp, các ngành trên địa bàn thông qua hoạt động: Tiếp xúc cử tri, giám sát, chế độ báo cáo, dự hội nghị và trao đổi trực tiếp. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay tổ chức được 14 hội nghị giao ban hàng quý giữa Thường trực HĐND tỉnh với Thường trực, các Ban HĐND cấp huyện, xã trên địa bàn; tham gia 11 hội nghị và tổ chức thành công 2 hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố đồng bằng Sông Hồng và duyên hải Bắc Bộ.

Tuy nhiên việc phối hợp hoạt động với UBND, Uỷ ban MTTQ, các đoàn thể nhân dân có lúc, có nơi chưa thường xuyên, chưa tốt, hiệu quả chưa cao. Vai trò lãnh đạo tham gia phối hợp trong hoạt động giám sát còn ít.

d) Các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của HĐND tỉnh

HĐND đã xây dựng, bổ sung kịp thời chế độ định mức chi hoạt động của HĐND các cấp theo hướng cụ thể hóa cho từng hoạt động, khuyến khích đại biểu, cán bộ, công chức tích cực tham gia. Trong nhiệm kỳ đã tổ chức tập huấn được 3 đợt cho đại biểu HĐND tỉnh. Về trang thiết bị phục vụ hoạt động HĐND được đầu tư, nâng cấp. Bộ máy Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND được tăng cường. Nhìn chung các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của HĐND cơ bản được đáp ứng; hoạt động phí, chế độ của đại biểu và cán bộ, công chức tham gia hoạt động được chi trả đúng quy định. Đại biểu HĐND được cung cấp đầy đủ tài liệu như: Báo Vĩnh Phúc, Báo Người đại biểu nhân dân và một số văn bản có liên quan đến hoạt động.

Tuy vậy, còn một số hạn chế: Bộ máy Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND giúp việc, phục vụ vẫn chưa đáp ứng được so với yêu cầu nhiệm vụ của Đoàn ĐBQH và HĐND. Chưa có cơ chế mạnh để thu hút cán bộ, công chức có trình độ, toàn tâm, dồn sức vào hoạt động của HĐND. Tổ chức cán bộ giúp cho các Ban HĐND còn mỏng so với nhiệm vụ, đại biểu chuyên trách ít, cán bộ giúp việc chưa đủ.

II - VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HĐND CẤP HUYỆN, XÃ (HUYỆN, PHƯỜNG, TỈNH ĐẾN 25-4-2009).

1.  Về tổ chức của HĐND cấp huyện, xã

a) Đại biểu HĐND

* Cấp huyện: Tổng số đại biểu bầu đầu nhiệm kỳ là 319, đến tháng 4-2009 còn 272 giảm 47 đại biểu do bị bãi nhiệm 02, thôi làm nhiệm vụ 10; chết 02 và HĐND huyện Mê Linh chuyển về thành phố Hà Nội 33. Cơ cấu đại biểu công tác: Đảng  chiếm 17,70%; công tác chính quyền 36,06%; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể 14,10%; kinh tế 7,54%; thành phần khác 24,60%. Nữ: 16,65% giảm so với đầu nhiệm kỳ 4,66%; ngoài Đảng 13,44%, tôn giáo 1,96%, dân tộc ít người 4,92%, tái cử 25,9%. Trình độ văn hoá: Trung học cơ sở chiếm 2,29%; Trung học phổ thông 97,71%. Trình độ chuyên môn: Sơ cấp chiếm 0,98%; Trung cấp, Cao đẳng chiếm 13,77%; Đại học 175 chiếm 57,38%; trên đại học 1,64%. Trình độ chính trị: Sơ cấp 4,92%; Trung cấp 28,85%; Cao cấp 35,08%. Từ tháng 4-2009 đến nay, thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND các huyện nên hiện nay còn HĐND thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên với số đại biểu 57, trong đó có 04 đại biểu hoạt động chuyên trách.

* Cấp xã: Tổng số đại biểu được bầu đầu nhiệm kỳ là 3918 đại biểu, đến tháng 3/2008, số đại biểu còn 2.836, giảm 1.082 đại biểu, do bị bãi nhiệm 13; thôi làm nhiệm vụ đại biểu 26, chết 19, chuyển về Hà Nội 1.024. Đại biểu công tác: Đảng chiếm 12,47%, công tác chính quyền 31,92%, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể 24,30%; kinh tế 6,29%, khác 25,02%. Đại biểu cơ cấu: Nữ 18,10%, ngoài Đảng 16,50%, tôn giáo 1,48%, dân tộc ít người 2,67%, tái cử 44,35%. Trình độ đại biểu: Về văn hoá, tiểu học 0,23%; Trung học cơ sở 33,96%; Trung học phổ thông 65,81%. Trình độ chuyên môn: Trung cấp, cao đẳng 20,21%; Đại học 7,36%; trên đại học 0,05%. Trình độ lý luận: Sơ cấp 28,78%; Trung cấp 34,61%; Cao cấp 1,53%. Từ tháng 4-2009 đến nay, thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND phường nên đại biểu HĐND xã, thị trấn còn: 3.445 đại biểu, trong đó: Đại biểu chuyên trách 124.

Nhìn chung chất lượng đại biểu HĐND được nâng lên cả về trình độ văn hoá, chuyên môn và lý luận; cơ cấu đại biểu là nữ, người ngoài Đảng, tôn giáo, dân tộc ít người tăng so với nhiệm kỳ trước; về độ tuổi được trẻ hóa. Đa số đại biểu thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ; luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ và chịu sự giám sát của cử tri, gương mẫu nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết của HĐND. Tỷ lệ đại biểu tham dự các kỳ họp bình quân đạt 97,87% (cấp huyện), 96,2% (cấp xã). Nhiều đại biểu HĐND cấp huyện còn tích cực tham gia dự kỳ họp HĐND cấp dưới nơi ứng cử. Việc tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp được duy trì đều, cấp huyện đạt 85%, cấp xã 87%. Hình thức tiếp xúc cử tri có bước đổi mới, đảm bảo dân chủ; nhiều tổ đã chia từ 1 - 2 đại biểu xuống thôn, tổ dân phố gặp dân. Kết thúc có tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri, phản ánh với Tổ trưởng Tổ đại biểu hoặc gửi đến Thường trực HĐND cùng cấp để tổng hợp phân loại chuyển đến các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết.

Tuy nhiên, đại biểu HĐND hoạt động kiêm nhiệm chiếm tỷ lệ cao, trình độ không đều, dành thời gian cho hoạt động của HĐND có nơi, có việc đại biểu hoạt động chất lượng chưa cao; một số đại biểu tiếp xúc cử tri còn thụ động, chưa chủ động giải thích kiến nghị đã và đang giải quyết; hình thức, thành phần tiếp xúc cử tri của một số Tổ đại biểu chưa phong phú, cử tri là người trực tiếp lao động còn ít; việc đôn đốc cơ quan, cá nhân có trách nhiệm giải quyết các kiến nghị của cử tri chưa tích cực, làm giảm niềm tin của cử tri đối với HĐND. Công tác tiếp công dân của đại biểu HĐND tuy đã có chuyển biến, xong vẫn chưa được duy trì thường xuyên, số lượt tiếp dân còn ít, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, công dân chủ yếu đến các đại biểu giữ cương vị lãnh đạo có thẩm quyền giải quyết trực tiếp. Hoạt động giám sát của đại biểu còn hạn chế. Một số nơi đại biểu cấp xã ít được đào tạo, bồi dưỡng, khó khăn khi quyết định nhiệm vụ quan trọng ở địa phương tại kỳ họp chủ yếu biểu quyết theo xuôi chiều; năng lực không thể giám sát việc thực thi, pháp luật, các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Có đại biểu chưa hiểu và làm đúng nhiệm vụ,

b) Thường trực HĐND

* Cấp huyện: Tại kỳ họp thứ nhất HĐND có 06 huyện, thị bầu đủ Thường trực HĐND gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên Thường trực, 03 huyện, thị chưa có Ủy viên Thường trực HĐND; 06 Chủ tịch HĐND là Bí thư cấp huyện; 03 Chủ tịch HĐND là Phó Bí thư; 7 Phó Chủ tịch HĐND hoạt động chuyên trách, 2 phó chủ tịch HĐND hoạt động kiêm nhiệm; 06 Uỷ viên Thường trực HĐND hoạt động chuyên trách, đến năm 2008, Thường trực HĐND mới có đủ 100% ở các huyện, thành, thị.

* Cấp xã: Đầu nhiệm kỳ Thường trực HĐND cấp xã gồm: 152 Chủ tịch HĐND, có 4 nữ bằng 2,63%, dân tộc ít người 5 bằng 3,29%, hoạt động kiêm nhiệm 122 bằng 80,26% trong đó là bí thư Đảng uỷ 89 đồng chí bằng 58,56%, phó bí thư 26 đồng chí bằng 17,10%, Uỷ viên Thường vụ 07 đồng chí bằng 4,60%; chuyên trách 30 bằng 19,74%, trong đó Uỷ viên Thường vụ 09 bằng 5,92%, cấp uỷ viên 19 bằng 12,50%, không cấp uỷ 02 bằng 1,32%, tái cử 52 bằng 34,21%.  Phó Chủ tịch HĐND 152,  trong đó: Nữ 10 bằng 6,58%, dân tộc 02 bằng 1,31%, chuyên trách 143 bằng 94,08%, trong đó là Uỷ viên Thường vụ 64 bằng 42,11%, cấp uỷ viên 69 bằng 45,39%, không cấp uỷ 19 bằng 12,50%; kiêm nhiệm 9 bằng 5,92%, tái cử 42 bằng 27,81%. Thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND phường và chuyển hiện Mê Linh về thành phố Hà Nội, đến nay: Chủ tịch HĐND là 124, trong đó hoạt động kiêm nhiệm: 100 là Bí thư 89, Phó Bí thư 17, chuyên trách 17, là Ủy viên Thường vụ 01, Phó Chủ tịch HĐND: 124, trong đó hoạt động kiêm nhiệm 12, là Bí thư không, Phó Bí thư 06; hoạt động chuyên trách 113, là Ủy viên Thường vụ 14, Đảng ủy viên 72.

Nhìn chung Thường trực HĐND đều xây dựng quy chế làm việc của nhiệm kỳ, chương trình hoạt động hàng năm, quý, tháng của HĐND; chỉ đạo, điều hoà, phối hợp với cơ quan, tổ chức trong việc chuẩn bị nội dung kỳ họp và hoạt động giữa hai kỳ họp theo quy định, phù hợp với thực tế. Phân công cụ thể cơ quan tổ chức, cá nhân chuẩn bị báo cáo, đề án trình HĐND, tổ chức tiếp xúc cử tri, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri, ý kiến chất vấn. Việc điều hành kỳ họp được sắp xếp hợp lý, tiết kiệm thời gian, định hướng rõ nội dung thảo luận tại kỳ họp; ở cấp huyện đã giảm thời gian đọc, tăng thời gian thảo luận, chất vấn tại kỳ họp. Về hoạt động giám sát đã có sự cải tiến, hoạt động tích cực hơn so với nhiệm kỳ trước, nhất là ở cấp huyện. Công tác giữ mối liên hệ với đại biểu, Tổ đại biểu HĐND chặt chẽ thông qua việc chỉ đạo bằng văn bản, tham dự hội nghị, trao đổi kỹ năng hoạt động. Việc phân loại, tổng hợp và chuyển đến các cơ quan chức năng xem xét giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri, nhiều địa phương đã thực hiện tốt. Hoạt động tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo đã được quan tâm hơn trước, đa số các nơi phối hợp với UBND cùng cấp tổ chức tiếp dân. Hàng quý, Thường trực HĐND cấp huyện thường xuyên tổ chức hội nghị giao ban với Thường trực HĐND cấp xã trong địa bàn, chất lượng hoạt động từng bước được nâng lên. Chế độ thông tin báo cáo nhiều nơi thực hiện tốt; các hoạt động chung của địa phương tham gia đều.

Tuy nhiên, hoạt động của Thường trực HĐND còn một số hạn chế: Công tác chuẩn bị kỳ họp một số nơi nhất là cấp xã chất lượng thấp. Hoạt động giữa hai kỳ họp còn mờ nhạt, chưa hiệu quả, giám sát chưa sâu, chưa cụ thể, chưa xác định được nội dung trọng tâm; có nơi ban hành văn bản sai thể thức, chưa phù hợp với quy định của pháp luật.

c) Các Ban HĐND cấp huyện

Cấp huyện: Có 2 Ban Kinh tế - Xã hội và Pháp chế, mỗi Ban từ 3 - 9 thành viên đều hoạt động kiêm nhiệm. Trưởng các Ban đều là Thường vụ cấp uỷ, Trưởng các Ban Đảng của huyện, Thị uỷ; Phó Ban và các thành viên cơ cấu là Trưởng, Phó phòng, ban và Bí thư, Chủ tịch UBND một số xã, thị trấn.

Cơ bản các Ban hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của Luật như: Tham gia xây dựng nội dung kỳ họp, thẩm tra và giám sát theo kế hoạch.

d) Tổ đại biểu

Đầu nhiệm kỳ có 560 tổ, trong đó: Cấp xã: 497 tổ; cấp huyện 63 tổ, được tổ chức theo hướng: Cấp xã mỗi thôn là một tổ, cấp huyện xếp tổ theo đơn vị bầu cử gồm một số xã, phường, thị trấn. Mỗi Tổ thường từ 3 - 5 đại biểu gồm Tổ Trưởng, Tổ Phó. Đến nay số Tổ đại biểu giảm còn 385 tổ do huyện Mê Linh chuyển về Hà Nội, các huyện, phường không còn HĐND.

Nhìn chung các Tổ đại biểu đã bám sát chức năng nhiệm vụ để thực hiện. Phối hợp với Thường trực HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức ở thôn, tổ dân phổ để tổ chức tiếp xúc cử tri; đa số các tổ đã tổng hợp kết quả phản ánh đến Thường trực HĐND cùng cấp trước kỳ họp chuyển đến các cơ quan chức năng giải quyết. Tổ chức họp Tổ thảo luận, đóng góp vào nội dung trình HĐND, đánh giá kết quả hoạt động của đại biểu 6 tháng và hàng năm. Tuy nhiên, thực hiện chế độ họp Tổ đại biểu còn nhiều hạn chế, duy trì không thường xuyên. Nội dung họp tổ có nơi chuẩn bị chưa tốt; tổng hợp, giải thích các ý kiến của cử tri chưa được đầy đủ và cụ thể.

2. Về hoạt động của HĐND cấp huyện, xã

a) Thực hiện chức năng của HĐND

* Về quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương

Trong nhiệm kỳ HĐND cấp huyện đã thông qua 484 nghị quyết, trong đó… nghị quyết chuyên đề; cấp xã thông qua 4.366 nghị quyết, trong đó… nghị quyết chuyên đề. Nhìn chung, các nghị quyết HĐND ban hành đảm bảo quy trình, thủ tục theo quy định. Nội dung nghị quyết tập trung vào những vấn đề bức xúc, cấp thiết trên địa bàn để khai thác lợi thế; phát triển kinh tế - xã hội như: Vấn đề về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn, xây dựng gia đình văn hóa, làng xã, đơn vị văn hóa; phát triển kết cấu hạ tầng (trường, trạm, giao thông nông thôn, trụ sở…). Một số địa phương còn ban hành nghị quyết cụ thể hóa cơ chế của HĐND tỉnh. Một số nơi quyết định vấn đề quan trọng ở địa phương đã thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, tổ chức lấy ý kiến nhân dân; đưa đại biểu HĐND, đại diện cử chi đi tham quan học tập kinh nghiệm trước khi quyết định. Nhiều nghị quyết khi có hiệu lực thực hiện được, không cần phải có văn bản hướng dẫn của UBND cùng cấp. Đa số nghị quyết HĐND cấp huyện, xã tập trung vào các nội dung về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; dự toán và phân bổ ngân sách, phê chuẩn quyết toán ngân sách, điều chỉnh ngân sách; về bầu và bầu bổ sung các chức danh của Thường trực HĐND, các Ban HĐND và UBND cùng cấp. Một số nghị quyết chuyên đề của nhiều xã, thị trấn ở Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương đạt hiệu quả cao như: Nghị quyết về phát triển giao thông nông thôn; huy động đóng góp xây dựng công trình  phúc lợi; xây dựng khu sản xuất hàng hóa tập trung… đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, tạo ra bộ mặt nông thôn thay đổi và tiến bộ.

Tuy nhiên, không ít cơ sở ban hành nghị quyết  HĐND chất lượng thấp, thể thức chưa đúng; nội dung chung chung, sơ sài, thông qua không áp dụng được; đưa ra mục tiêu, giải pháp chưa khả thi. Qua báo cáo, ở cơ sở chưa có nơi nào HĐND thực hiện phản biện và quyết định phương án khác với Cơ quan trình trình,

* Về hoạt động giám sát

Tử đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND cấp huyện tổ chức 610 đợt giám sát, trong đó: 196 đợt, các Ban  HĐND 414 đợt, thực hiện chất vấn tại kỳ họp được 378 nội dung (bình quân mỗi kỳ họp 3), giám sát thông qua tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo 1,486 ý kiến, kiến nghị, đã giải quyết đạt 88%. Từ khi không còn HĐND huyện, HĐND thành phố, thị xã tổ chức được bình quân một năm 13 đợt giám sát, trong đó chưa có đợt giám sát khi nhận nhiệm vụ mới thay cho HĐND phường. HĐND cấp xã tổ chức được 5.297 đợt giám sát, chủ yếu do Thường trực HĐND thực hiện; một số xã thị trấn đã vận dụng linh hoạt giao cho Tổ đại  biểu thực hiện giám sát như thị trấn Hương Canh - Bình Xuyên,… Qua báo cáo tổng hợp từ cơ sở, thực hiện chất vấn tại kỳ họp rất ít và nơi thực hiện được như: (xã Việc Xuân - Vĩnh Tường) nhưng cũng không thường xuyên. Giám sát thông qua tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo 4.640 ý kiến, kiến nghị của cử tri, trong đó giải quyết được trên 90%. Nội dung giám sát chủ yếu tập trung vào việc thực hiện các nghị quyết của HĐND về tài chính, ngân sách ở địa phương và những vấn đề bức xúc về chế độ chính sách, đất đai, môi trường, ở thôn, tổ dân phố quan tâm.

Nhiều nơi sau giám sát có kết luận, thông báo gửi cấp trên trực tiếp. Tuy nhiên còn không ít nơi ở cấp xã giám sát chưa ra thông báo, không làm rõ được bản chất sự việc khi giám sát. Việc đôn đốc theo dõi thực hiện kiến nghị, yêu cầu sau giám sát chưa quan tâm. Thực hiện giám sát hình thức. Có địa phương còn lúng túng về trình tự giám sát. Sau giám sát, một số vụ việc không có sự chuyển biến, dẫn đến tích tụ phát sinh thành điểm nóng trên địa bàn.

b) Về kỳ họp HĐND

* Công tác chuẩn bị kỳ họp: Nhìn chung, Thường trực HĐND triển khai sớm và đúng quy định; phối hợp kịp thời giữa Thường trực HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ, các Ban của Hội đồng và các ngành liên quan, phân công rõ trách nhiệm từng đơn vị chuẩn bị nội dung, tổ chức đại biểu đi tiếp xúc cử tri, tuyên truyền thông tin trên phương tiện đài địa phương đảm bảo thời gian quy định để nhân dân biết, theo dõi, giám sát. Các báo cáo, đề án trình kỳ họp ngày càng được cải tiến (có báo cáo chi tiết và báo cáo tóm tắt), tài liệu gửi đến đại biểu nhìn chung đúng thời hạn. Tuy nhiên chất lượng một số báo cáo, đề án trình kỳ họp còn thấp (kể cả 2 cấp) còn nặng về kể lể, báo cáo thành tích, khái quát chưa cao, chưa nêu được giải pháp cụ thể; dự thảo nghị quyết còn chưa đúng với quy trình của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; gửi báo cáo, đề án trình kỳ họp có lúc còn quá chậm so với quy định. Có xã không in đủ tài liệu gửi đại biểu, tổ chức thẩm tra hình thức.

* Về  hoạt động tại kỳ họp: Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND cấp huyện tổ chức 180 kỳ họp thường kỳ, một số nơi tổ chức 9 kỳ họp chuyên đề; HĐND cấp xã tổ chức 2.170 kỳ họp, trong đó có 136 kỳ họp chuyên đề. Các kỳ họp được tiến hành đúng thời gian, thành phần dự và các nội dung theo quy định của luật, phiên thảo luận được tiến hành nhìn chung đảm bảo dân chủ, thẳng thắn, cởi mở. Tại các kỳ họp, một số nơi (chủ yếu cấp huyện) thực hiện được chất vấn, mỗi kỳ họp thường có từ 3 - 5 ý kiến chất vấn. Các ý kiến chất vấn tập trung vào vấn đề bức xúc xã hội và cử tri quan tâm, thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri và  giám sát. Nội dung kỳ họp có nhiều ý kiến khác nhau được tổng hợp để các đại biểu thảo luận chủ yếu ở cấp huyện. Nội dung chất vấn được trả lời cơ bản là đi thẳng vào vấn đề, ý kiến phức tạp cần nghiên cứu, được trả lời bằng văn bản sau kỳ họp. So với nhiệm kỳ trước. Một số địa phương đã học tập kinh nghiệm hoạt động của HĐND tỉnh nên đã giảm được thời gian đọc, tăng thời gian thảo luận tại kỳ họp.

Tuy nhiên, một số nơi, HĐND cấp xã tổ chức kỳ họp chưa đảm bảo luật định, nội dung sơ sài, chưa đặt ra được yêu cầu về chất lượng, các tài liệu trình kỳ họp, tổ chức kỳ họp hình thức (có nơi kỳ họp cuối năm chưa hết một ngày). Giám sát tại kỳ họp chưa được chú ý, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn ở cấp xã rất ít, những nơi thực hiện được chất lượng chưa cao, chưa sôi nổi, còn dè dặt, nể nang, chủ yếu hỏi để biết, những câu hỏi chất vấn sâu sát và cụ thể chưa được giải trình rõ và đưa ra giải pháp thực hiện. Điều hành kỳ họp của HĐND có lúc, cơ nơi còn lúng túng, chưa khoa học, chưa phát huy được trí tuệ tập thể và trách nhiệm của đại biểu. Thảo luận tại kỳ họp còn xuôi chiều, ít tranh luận và phản biện.

c) Mối quan hệ của HĐND với các cơ quan hữu quan

HĐND luôn đảm bảo sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng cùng cấp. Những vấn đề quan trọng trước khi đưa ra HĐND thảo luận, quyết định, phải xin chủ trương của cấp ủy cùng cấp.

Về mối quan hệ phối hợp giữa HĐND với UBND, Uỷ ban MTTQ và các đoàn thể nhân dân đảm bảo theo quy định của luật. Các hoạt động của HĐND có nội dung liên quan đều mời UBND, MTTQ và các đoàn thể tham gia. Nhiều hoạt động có kết quả tốt như chuẩn bị các kỳ họp, giám sát, tổ chức cho đại biểu đi tiếp xúc cử tri v.v... Nhìn chung, việc phối hợp ngày càng được tăng cường, tạo sự thống nhất cao trong tổ chức các hoạt động. Tuy nhiên chất lượng phối hợp hoạt động ở cấp cơ sở; giữa cơ sở với cấp trên có nơi, có lúc, có việc chưa thường xuyên hiệu quả chưa cao.

d) Các điều kiện đảm bảo

Nhìn chung các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của HĐND được đáp ứng theo nghị quyết HĐND tỉnh về chế độ định mức chi. Hoạt động phí, chế độ bồi dưỡng của đại biểu được cấp theo quy định. Đại biểu HĐND cấp huyện và nhiều xã, thị trấn cung cấp đầy đủ tài liệu như: Báo Vĩnh Phúc, Báo Người đại biểu nhân dân và một số văn bản có liên quan đến hoạt động của đại biểu. Tuy nhiên, bộ máy giúp việc cho HĐND cấp huyện, xã còn nhiều bất cập. Nhiều nơi nhân viên, chuyên viên giúp việc không có, hoặc có không đảm bảo đủ. HĐND một số xã thiếu kinh phí nên chưa thực hiện được một số định mức chi theo nghị quyết HĐND. Công tác tổ chức định biên cán bộ chuyên trách của HĐND cấp huyện và cấp xã chưa hợp lý. Thực tế ở cấp xã Chủ tịch HĐND kiêm nhiệm, một Phó Chủ tịch Thường trực không có các Ban của HĐND nên hoạt động giám sát rất khó khăn và kém hiệu lực, hiệu quả.

3. Đánh giá thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, phường

Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương về thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, phường trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Thường trực HĐND tỉnh đã sớm tổ chức Hội nghị quán triệt, phổ biến, và tập huấn tới các cấp, các ngành, Thường trực HĐND cấp huyện, xã. Hướng dẫn kịp thời để HĐND các huyện, phường tổng kết nhiệm kỳ 2004 - 2009.

Qua 2 năm thực hiện, kết quả cho thấy: Bước đầu tạo ra sự chuyển biến trong cải cách hành chính, khởi đầu cho sự khác biệt về bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn, giữa chính quyền đô thị và nông thôn; phát huy được tính chủ động lãnh đạo, quản lý, điều hảnh của UBND huyện, phường. Vai trò, trách nhiệm của các cơ quan được nhận nhiệm vụ của HĐND huyện, phường được mở rộng và nâng lên. Giảm được khoản kinh phí chi hoạt động của HĐND huyện, phường và tạo cơ sở để nhiệm kỳ mới giảm một số cán bộ công chức, chuyên viên giúp việc HĐND huyện, phường (mỗi huyện từ 3 đến 4 biên chế mỗi phường 1 đến 2 biên chế).

Tuy nhiên, quá trình thực hiện nổi lên một số vấn đề:

- Không tổ chức HĐND huyện, phường đã làm giảm đi một cấp đại diện của dân trên địa bàn, quyền dân chủ của người dân bị thu hẹp. Việc tiếp xúc và nắm bắt những tâm tư, nguyện vọng của cử tri gặp nhiều khó khăn.

- Nơi thực hiện thí điểm, chức năng, nhiệm vụ của HĐND được giao cho HĐND, UBND cấp trên trực tiếp, UBND và Ủy ban MTTQ, các tổ chức đoàn  thể cùng cấp (theo Nghị quyết 725/2009/UBTVQH12). Nhưng trên thực tế với bộ máy tổ chức và biên chế cán bộ như hiện nay thì hoạt động của HĐND tỉnh làm tròn chức năng, nhiệm vụ của cấp tỉnh đã rất khó khăn và nặng nề. Nay phải đảm nhận thêm chức năng, nhiệm vụ của HĐND cấp huyện chắc chắn hoạt động sẽ mang tính hình thức và kém hiệu quả; các hoạt động giám sát về kinh tế - ngân sách và lĩnh vực văn hóa - xã hội giảm nhiều so với khi còn HĐND huyện, riêng lĩnh vực pháp chế hoạt động giám sát khối nội chính của huyện như: Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án… gần như buông lỏng. Hoạt động giám sát của các cơ quan MTTQ và các đoàn thể hiệu lực pháp lý không cao.

HĐND thành phố, thị xã chưa ban hành nghị quyết về tài chính ngân sách hàng năm cho các phường trên địa bàn. Đảm nhận hoạt động giám sát của HĐND phường, hầu như chưa thực hiện được. Thường trực HĐND thị xã Phúc Yên mới giám sát được việc ban hành quyết định của UBND một số phường về phát triển kinh tế - xã hội, phân bổ ngân sách, đã phát hiện một số quyết định chưa chuẩn, yêu cầu sửa. Đến nay đã hủy và điều chỉnh cho phù hợp.

- Thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, hiện nay chưa có cơ chế và đầu mối cụ thể để nhân dân trực tiếp tham gia, giám sát, phản ánh tình hình hoạt động của UBND huyện, phường.

- HĐND các xã, thị trấn, đại biểu hoạt động chuyên trách rất ít (mỗi cơ sở 01 đại biểu). Trình độ chuyên môn, kỹ năng hoạt động của đại biểu xã, thị trấn tuy được nâng lên nhưng chưa thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ để giám sát hoạt động của UBND cùng cấp.

- Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể các huyện, phường có chức năng giám sát và phản biện xã hội. Nhưng không thể thực hiện thay chức năng giám sát của HĐND huyện. Vì HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, có thẩm quyền xử lý khi vi phạm pháp luật.

- Giám sát hoạt động của các cơ quan Tòa án nhân dân, Kiểm sát nhân dân huyện trên địa bàn thực hiện ít hơn khi còn HĐND huyện. Kỳ họp HĐND tỉnh chưa giám sát được chi tiết như khi còn HĐND huyện.

Nguyên nhân của hạn chế trên là do cơ chế; chính sách ban hành để thực hiện thí điểm còn chưa đầy đủ, kịp thời; vai trò của cấp ủy Đảng trong việc triển khai, kiểm tra thực hiện chưa tích cực; các điều kiện về con người, điều kiện pháp lý, cơ sở vật chất đảm bảo cho cơ quan, tổ chức đảm nhận nhiệm vụ của HĐND huyện, phường còn chưa tương ứng.

Để thí điểm không tổ chức HĐND huyện, phường thu được kết quả, phản ánh đúng khách quan và thực tiễn, các cơ quan nhà nước nhận nhiệm vụ của HĐND huyện, phường phải có đủ nhân lực, nguồn lực, điều kiện đảm bảo với cơ chế, chính sách rõ ràng, gắn với trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan và cá nhân phụ trách. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ phải được cụ thể và sâu sát với chế độ kiểm tra, giám sát thường xuyên. Nâng cao địa vị pháp lý của các cơ quan dân cử ở địa phương nơi không tổ chức HĐND huyện, phường nên có cơ chế riêng.

III - ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

1. Đánh giá chung

 Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, HĐND các cấp đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đã hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ theo luật định. Đã khẳng định rõ HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. HĐND đã nỗ lực cố gắng cùng với UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh và các cơ quan liên quan quyết định nhiều chủ trương, biện pháp quan trọng, đồng bộ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong tỉnh.

Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011 có nhiều đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện ngày càng tốt hơn các nhiệm vụ quyền hạn theo luật định. Đa số các đại biểu đã phát huy được vai trò, trách nhiệm trong việc thưc hiện chức năng nhiệm vụ. Thường trực, các Ban và một số tổ đại biểu HĐND tỉnh đã thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ, luôn năng động sáng tạo, vận dụng linh hoạt những quy định của pháp luật, cải tiến phương thức hoạt động để nâng cao trách nhiệm của đại biểu, phát huy dân chủ trong hoạt động của HĐND. Triển khai kịp thời nghị quyết của Đảng bộ thành các nghị quyết của HĐND. Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND được thực hiện đúng trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương. Các kỳ họp của HĐND tỉnh được thực hiện tốt, luôn có sự cải tiến, khắc phục được hạn chế của các kỳ họp trước. Thực hiện phương châm “Mỗi kỳ họp HĐND tỉnh có một nét mới”. Nghị quyết của HĐND tỉnh nhìn chung ban hành đúng quy trình, đảm bảo đúng đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, hợp lòng dân, được nhân dân đồng thuận và tự giác thực hiện. Công tác giám sát có nhiều đổi mới về quy mô, phạm vi và hình thức giám sát, đã kịp thời phát hiện và chỉ ra những tồn tại, thiếu sót, vướng mắc, bất cập trong triển khai thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hoạt động của HĐND tỉnh giúp UBND tỉnh, cơ quan, đơn vị có liên quan khắc phục kịp thời, góp phần quan trọng trong việc ổn định và phát triển Kinh tế- Xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng và củng cố chính quyền ngày càng vững mạnh. Một số địa phương đã áp dụng các hình thức hoạt động của HĐND tỉnh để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND.

Tuy nhiên, nhiệm kỳ qua còn có những hạn chế. Nhận thức một số đại biểu chưa đầy đủ về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND; chất lượng hoạt động của đại biểu chưa đồng đều. Hoạt động của HĐND có việc hiệu quả chưa thiết thực, chưa đạt yêu cầu của cử tri. Số lượng các cuộc giám sát được nâng lên nhưng chưa đáp ứng yêu cầu thực tế ở tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, vấn đề bức xúc của xã hội cử tri quan tâm, có nơi chưa xử lý kịp thời. Một số nghị quyết được ban hành chất lượng chưa cao, quá trình tổ chức triển khai thực hiện gặp khó khăn, vướng mắc. Các điều kiện về tổ chức bộ máy và cán bộ tham mưu, giúp việc cho Hội đồng nhân dân chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra. Những khó khăn, tồn tại trên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân.

2. Một số kinh nghiệm thực tiễn

Qua thực tiễn hoạt động của HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2004- 201, để nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực, thực quyền trong hoạt động HĐND nhiệm kỳ tới, Hội đồng nhân dân tỉnh rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

1. Làm tốt công tác tham mưu, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của cấp uỷ Đảng đối với HĐND trong đó cần tiếp tục bố trí đủ cán bộ có năng lực, tiêu chuẩn và các điều kiện hoạt động cho HĐND tỉnh. Tăng cường bổ sung Trưởng, Phó các Ban, đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; đội ngũ cán bộ, công chức giúp việc cho Thường trực, các Ban cần được bố trí đầy đủ, có năng lực và trình độ để tham mưu giúp việc đạt hiệu quả.

2. HĐND, Thường trực, các Ban và từng đại biểu HĐND tỉnh phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của luật; phải tạo lập không khí dân chủ, công khai, thẳng thắn, ý thức xây dựng trong hoạt động của HĐND, nhất là trong kỳ họp; trong hoạt động giám sát, trong quyết định những vấn đề quan trọng về kinh tế, xã hội của địa phương.

3. Thường xuyên đổi mới hoạt hoạt động giám sát cả về nội dung và hình thức giám sát trên cơ sở lựa chọn những vấn đề trọng tâm, trọng điểm hoặc những vấn đề còn nhiều vướng mắc mà cử tri quan tâm; hình thức giám sát phải đổi mới theo hướng đi sâu về cơ sở. Nâng cao trách nhiệm của đại biểu, thắt chặt mối quan hệ giữa đại biểu với cử tri, chú trọng công tác bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, trình độ lý luận, kỹ năng hoạt động thông qua các hình thức tập huấn, trao đổi kinh nghiệm, mời tổ đại biểu dự, tham gia các cuộc giám sát thường xuyên. Tích cực kiểm tra theo dõi việc thực hiện kết quả sau giám sát để kịp thời khắc phục những tồn tại, yếu kém.

4. Tổ chức các hình thức tiếp xúc cử tri phải đa dạng, đối tượng tiếp xúc phải phù hợp với nội dung. Chương trình tiếp xúc cử tri của đại biểu phải phù hợp, dành nhiều thời gian để cử tri tham gia, phát biểu. Nội dung chuyên đề cần phải tổ chức tiếp xúc với cử tri có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm hoạt động.

5. Thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng các kỳ họp ngay từ khâu chuẩn bị nội dung đến việc tổ chức điều hành kỳ họp cũng như việc thông qua các nghị quyết của kỳ họp theo hướng mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ của đại biểu, của cán bộ, công chức, cử tri nghỉ hưu nhưng có kinh nghiệm thực tiễn và của tập thể trong kỳ họp HĐND; tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, công khai các hoạt động của HĐND tỉnh; bảo đảm cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu cho đại biểu kịp thời.

6. Cán bộ, chuyên viên tham mưu, giúp việc HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND phải mang tính chuyên nghiệp, chuyên sâu ở từng lĩnh vực; có tâm, có tầm và tâm huyết với hoạt động của cơ quan dân cử. Phương thức hoạt động của bộ máy tham mưu, giúp việc phải khoa hoc, phát huy được trí tuệ của cá nhân, đồng thời phải đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, gắn trách nhiệm của cá nhân trong từng công việc cụ thể. Các điều kiện bảo đảm hoạt động của HĐND như: Kinh phí, biên chế, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, tổ chức bộ máy Văn phòng là một trong yếu tổ quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND. 

IV - KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT

Để HĐND các cấp tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2011-2016 hoạt động có chất lượng, hiệu quả, hiệu lực và thực quyền, Thường trực HĐND tỉnh kiến nghị:

1. Đối với Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ

- Cần sửa đổi Luật Tổ chức HĐND và UBND theo hướng:

+ Tăng đại biểu hoạt động chuyên trách ở cấp tỉnh mỗi Ban HĐND tỉnh tối thiểu phải có 02 đại biểu hoạt động chuyên trách; HĐND thành phố, thị xã, các Ban phải có lãnh đạo hoạt động chuyên trách; cấp xã có Ban HĐND, có chuyên viên giúp việc để đảm bảo hoạt động có hiệu quả.

+ Xác định Thường trực HĐND là “cơ quan” giải quyết công việc của HĐND giữa hai kỳ họp, bộ máy của HĐND tỉnh, huyện, thành, thị gồm đồng chí Phó Bí thư cấp ủy làm Chủ tịch HĐND, đối với cấp tỉnh là Bí thư Đảng Đoàn HĐND; 01 Phó Chủ tịch HĐND tham gia Thường vụ, 01 Phó Chủ tịch HĐND tham gia cấp uỷ cùng cấp và đều hoạt động chuyên trách, Trưởng, Phó các Ban HĐND đều hoạt động chuyên trách. Như vậy mới đảm bảo điều kiện làm việc và tương xứng với nhiệm vụ được giao.

- Đề nghị Quốc hội ban hành Luật Giám sát của HĐND, có chế tài cụ thể để đảm bảo cho hoạt động giám sát của Thường trực, các Ban của HĐND có hiệu lực và hiệu quả. Đối với các tỉnh thành phố thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường cần có văn bản hướng dẫn xây dựng quy chế phối hợp hoạt động giám sát giữa HĐND cấp trên với Uỷ ban MTTQ, các tổ chức đoàn thể cấp dưới;hướng dẫn cơ sở về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân vào các nội dung UBND quyết định khi không còn HĐND.

- Đề nghị sắp xếp lại tổ chức bộ máy, kinh phí hoạt động Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương và thống nhất trong toàn quốc theo hướng: Nên tách riêng Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND thành 02 Văn phòng vì thực tế nguồn ngân sách chi cho hoạt động của 2 Văn phòng khác nhau. Mỗi Ban HĐND có 01 Phòng chuyên môn giúp việc; 01 phòng tổng hợp, thư ký, phục vụ chung; tăng biên chế để mỗi Ban HĐND có  từ 5 đến 7 chuyên viên giúp việc.

- Chú ý đến cơ cấu đại biểu HĐND nhưng phải rất coi trọng chất lượng của đại biểu. Nên tăng đại biểu thuộc khối Đảng, đoàn thể, các nhà khoa học, khối kinh tế; giảm đại biểu thuộc khối chính quyền. Như vậy sẽ phát huy được chức năng giám sát và hoạt động tại kỳ họp của HĐND.

- Cần có quy định về sự phối hợp hoạt động giữa Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội với Thường trực HĐND và các Ban HĐND cấp tỉnh.

2. Kiến nghị với Tỉnh ủy

- Đề nghị Tỉnh ủy tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp uỷ Đảng từ tỉnh đến cơ sở đối với hoạt động của HĐND một cách toàn diện, thường xuyên, kịp thời và cụ thể; hàng quý có đánh giá hoạt động và chỉ đạo giải quyết kiến nghị, đề xuất của HĐND và UBND; những nội dung cần thiết có thể ra nghị quyết để lãnh đạo thực hiện; mỗi quý nên bố trí ít nhất một đợt giám sát, kiểm tra hoạt động của cơ quan dân cử ở địa phương. Bố trí cán bộ cho Hội đồng nhân dân trong nhiệm kỳ 2011-2016, đảm bảo 3 thế hệ có sự kế thừa và phát triển.

- Để tăng cường công tác giám sát của Đảng, đề nghị Ủy ban Kiểm tra các cấp nên tham dự các cuộc giám sát của Thường trực HĐND, các Ban HĐND.

- Đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp của Thường vụ Tỉnh ủy với HĐND tỉnh, đề nghị Tỉnh ủy bố trí tăng cường thêm cấp ủy, Thường vụ cấp ủy cho bộ máy hoạt động chuyên trách của HĐND tỉnh và bố trí Trưởng hoặc Phó trưởng các Ban của HĐND tỉnh hoạt động chuyên trách ngay từ đầu nhiệm kỳ 2011-2016.

 

 

TM. THƯỜNG TRỰC HĐND

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

 

Nguyễn Văn Chức