Báo cáo số 231-BC/TU ngày 16/6/2010 của Tỉnh ủy Sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW, ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới.

01/12/2010

TỈNH ỦY VĨNH PHÚC
_________

Số: 231-BC/TU

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
________________________

Vĩnh Yên, ngày 16 tháng 6 năm 2010

BÁO CÁO
Sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW, ngày 26/3/2008 của Bộ
 Chính trị về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng,
chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới.

_________

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh, sự tham gia tích cực của các ngành, các cấp, đoàn thể và đông đảo các tầng lớp nhân dân, công tác phòng, chống ma túy trên địa bàn đã đạt được những kết quả quan trọng.

Thực hiện Công văn số 1201-CV/ĐUCA (TCVI) ngày 17/5/2010 của Đảng ủy Công an Trung ương về việc sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 21-CT/TW, ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình mới, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc kiểm điểm, đánh giá kết quả đã làm trong 2 năm qua, cụ thể như sau: 

I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VÀ TỆ NẠN MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN

Vĩnh Phúc là một tỉnh trung du, giáp ranh với các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên và thành phố Hà Nội. Trong những năm gần đây, Vĩnh Phúc có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tốc độ đô thị hóa nhanh. Từ những đặc điểm về kinh tế, xã hội và điều kiện tự nhiên như trên đã tác động đến tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh. Riêng tội phạm về ma túy không là điểm nóng, song có nơi, có lúc vẫn gây nhiều bức xúc trong quần chúng nhân dân. Các đối tượng phạm tội ma túy lấy địa bàn tỉnh là địa bàn để chung chuyển các chất ma túy, hoạt động bằng nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, lợi dụng, khai thác triệt để tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động phạm tội ma túy tránh sự theo dõi, phát hiện của lực lượng công an.

Qua rà soát thống kê và qua theo dõi của lực lượng Công an, số đối tượng liên quan đến ma túy trên địa bàn tỉnh năm 2008 là 1.075 đối tượng; năm 2009 là 1.369 đối tượng liên quan đến ma túy, cụ thể:

- Mua bán, vận chuyển, tàng trữ: năm 2008 là 126 đối tượng, năm 2009 là 140 đối tượng.

- Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: năm 2008 là 04 đối tượng năm 2009 là 02 đối tượng.

- Số người nghiện ma túy: năm 2008 là 945 người, năm 2009 là 1.227 người trong đó:

+ Số người trong trại tạm giam, trại giam: năm 2008 là 184 đối tượng, năm 2009 là 247 đối tượng.

+ Số người đang cai nghiện tại TT06: năm 2008 là 336 đối tượng, năm 2009 là 404 đối tượng.

+ Số người nghiện ở cộng đồng năm 2008 là 425 đối tượng, năm 2009 là 576 đối tượng.

Năm 2008 toàn tỉnh có 31/137 xã, phường, thị trấn không có tệ nạn ma túy, năm 2009 có 20/137 xã, phường, thị trấn không có tệ nạn ma túy.

II. KẾT QUẢ 2 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ 21 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

1. Công tác chỉ đạo triển khai thực hiện.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đấu tranh, phòng chống và kiểm soát ma túy phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, đồng thời thực hiện Chỉ thị 21-CT/TW của Bộ Chính trị, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã kịp thời ban hành Chương trình hành động số 39-CT/TW ngày 10/7/2008 về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới, trong đó đưa ra 09 nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu trong công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy như: chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền phải cụ thể hóa các mục tiêu, yêu cầu, giải pháp về nhiệm vụ phòng, chống ma túy trong từng điều kiện của tình hình thực tế; đổi mới nội dung và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục phòng chống, ma túy tập trung vào các địa bàn trọng điểm, nhím đối tượng có nguy cơ cao; đẩy mạnh xã hội hóa công tác phòng chống ma túy, chính sách khuyến khích các đoàn thể, chính trị - xã hội, các tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân tham gia vào công tác đấu tranh phòng chống ma túy; nâng cao hiệu quả công tác chữa trị cai nghiện và quản lý sau cai nghiện…Trên cơ sở chương trình của Tỉnh ủy, các cấp ủy đảng, Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các tổ chức thành viên đã xây dựng kế hoạch, tổ chức phổ biến, quán triệt đến toàn thể cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức Đảng, chính quyền ở các cấp, các ngành đối với công tác phòng, chống ma túy.

Để cụ thể hóa những nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu trong Chương trình hành động của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo xây dựng kế hoạch số 3456/KH-UBND ngày 01/8/2008 về triển khai thực hiện Quyết định số 156/QĐ-TTg ngày 25/9/2007  của Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia PCMT đến năm 2010 và Chương trình hành động của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc thực hiện Chỉ thị 21-CT/TW của Bộ Chính trị, trong đó đưa ra 04 mục tiêu chung và 03 mục tiêu cụ thể đến năm 2010. Kế hoạch cũng đưa ra 03 giải pháp quan trọng để thực hiện Chỉ thị 21 của Bộ Chính trị; Chương trình hành động của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc là: kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực hoạt động phòng, chống ma túy ở các cấp, đẩy mạnh xã hội hóa công tác phòng, chống ma túy tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác chữa trị, cai nghiện và quản lý sau cai. Đồng thời triển khai thực hiện 07 Đề án, 03 tiểu đề án; phân công nhiệm vụ và tổ chức thực hiện cụ thể để chỉ đạo các sở, ngành, đoàn thể của tỉnh chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện.

Tỉnh đã tổ chức 05 hội nghị và 01 hội thảo “Chi hội nông dân tư vấn hỗ trợ người nghiện ma túy cai nghiện tại gia đình, cộng đồng” cho cán bộ, công chức, hội viên những kiến thức cơ bản về phòng chống tệ nạn ma túy về giúp đỡ người nghiện ma túy tại cộng đồng. Đã triển khai Đề án “Hỗ trợ thanh niên sau phạm tội, cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng giai đoạn 2009-2010” với mục tiêu trước mắt tạo việc làm và thu nhập ổn định cho 30 thanh niên sau phạm tội và cai nghiện ma túy.

Ban chỉ đạo các cấp đã thường xuyên được bổ sung, kiện toàn và duy trì hoạt động triển khai, thực hiện các nội dung, biện pháp công tác. Các đơn vị, địa phương đã làm tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, kịp thời đề xuất các giải pháp cụ thể trong phòng, chống ma túy ở từng giai đoạn, nhất là các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phòng ngừa, ngăn chặn ma túy. Các cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo phòng, chống HIV/AIDS , tệ nạn ma túy, mại dâm tỉnh thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp hoạt động và duy trì chế độ hội họp, thông tin báo cáo theo quy định để chỉ đạo theo ngành, lĩnh vực đến cơ sở.

2. Công tác tuyên truyền giáo dục về phòng, chống ma túy.

Tỉnh ủy đã xác định phải đổi mới nội dung và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma túy với nhiều hình thức phù hợp, phong phú để mọi người nhận thức rõ hiểm họa từ ma túy, tính cấp bách của công tác phòng, chống ma túy trên địa bàn. Từ đó tự giác, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống ma túy ma túy; hỗ trợ giúp đỡ người sau cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng. Vì vậy, trong 2 năm thực hiện Chỉ thị 21 của Bộ Chính trị các hoạt đồng thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng chống ma túy đã được gắn với các phong trào của các ngành, đoàn thể quần chúng trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội. Các nội dung phòng chống ma túy được tuyên truyền cụ thể đến các khu dân cư, cơ quan doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể, thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên các trường học trong đó tập vào nhóm đối tượng có nguy cơ cao về ma túy. Đã chủ động hướng các hoạt động tuyên truyền về địa bàn cơ sở, vào các địa bàn trọng điểm, lồng ghép giữa tuyên truyền phòng, chống tệ nạn xã hội với việc thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội, ở địa phương.

Trong 2 năm đã mở 445 lớp tập huấn, nói chuyện chuyên đề, sinh hoạt các câu lạc bộ…cho hơn 10 nghìn lượt hội viên, cán bộ, công nhân viên chức và hơn 50 nghìn lượt quần chúng nhân dân tham gia được tuyên truyền những kiến thức cơ bản về các phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS, phòng chống ma túy, mại dâm.

Đã đưa hơn 9.000 tin bài, ảnh tuyên truyền về phòng chống HIV/AIDS, tệ nạn ma túy, mại dâm trên các báo, đài, các bản tin chuyên đề, các bản tin sinh hoạt nội bộ. Phát hành và cấp phát hơn 151.000 tờ rơi, tờ gấp có nội dung tuyên truyền về phòng, chống ma túy. Cấp phát hơn 10.000 cuốn tạp chí, bản tin về phòng chống HIV/AIDS, phòng chống ma túy. Phối hợp với ngành văn hóa thông tin kẻ, vẽ 548 áp phích, 325 pano, hơn 1.000 băng zôn tại các nơi công cộng, các địa bàn trọng điểm, phức tạp đã có ý nghĩa tích cực đối với toàn xã hội. Đã tổ chức hơn 200 buổi biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim tại các địa bàn có lồng ghép nội dung tuyên truyền phòng, chống ma túy. Phát hành hơn 2.000 cuốn sách hroi đáp pháp luật có nội dung về phòng, chống ma túy, phòng, chống HIV/AIDS; đã phối hợp các lực lượng phát hành nhiều đĩa VCD, CD về phòng chống tội phạm, phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm.

Các ban, ngành, đoàn thể, Ban Chỉ đạo huyện, thành, thị đã huy động hơn 10 nghìn lượt cán bộ, hội viên và quần chúng tổ chức các buổi mít tinh, diễu hành, tổ chức tuyên truyền lưu động hưởng ứng “Tháng hành động phòng, chống ma túy” (tháng 6 tháng năm), “Ngày toàn dân phòng, chống ma túy” và “Ngày Quốc tế phòng, chống ma túy” (Ngày 26/6) theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công an, Ủy ban quốc gia. Đã tổ chức hội hti tuyên truyền viên giỏi về thực hiện Nghị quyết liên tịch 01 “Quản lý, giáo dục con em trong gia đình không phạm tội và tệ nạn xã hội” cấp huyện, tỉnh và thành lập đội tuyển tham gia hội thi quốc tế.

Tổ chức phát động cuộc thi tìm hiểu Luật Phòng, chống ma túy, luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật PCMT về lĩnh vực cai nghiện phục hồi với 460 bài dự thi, trong đó có 30 bài chất lượng cao năm 2009. Tổ chức triển khai Đề án 835, Sở LĐTB&XH đã chỉ đạo các chi cục  cơ sở thí điểm tổ chức tuyên truyền trên loa truyền thanh của xã, phường (6 buổi/tuần).

Tiếp tục phát động trong toàn phong trào “Vì mái trường không có ma túy”; tổ chức cho 100% cán bộm giáo viên, học sinh, sinh viên tại các trường ký cam kết không liên quan đến tệ nạn xã hội. Việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được thực hiện thường xuyên, liên tục trong các buổi chào cờ đầu tuần và trong các tiết sinh hoạt lớp cuối tuần. Công tác tuyên truyền được thực hiện hình thức, như tuyên truyền qua phát động nội bộ trường học; mời báo viên nói chuyện chuyên đề về phòng, chống ma túy; tổ chức viết báo tường, thi vẽ tranh cổ động, tìm hiểu về Luật PCMT; lồng ghép phòng, chống ma túy trong các tiết dạy ngoài giờ hoặc tiết dạy chính khóa, xây dựng các hòm thư góp ý tại các trường học, dựng các pano, áp phích tuyên truyền về phòng, chống ma túy.

Các cấp hội tiếp tục duy trì hoạt động của một số mô hình hoạt động có hiệu quả như “Tổ phụ nữ không có chồng con, hội viên nghiện ma túy”, có hiệu quả như “Đội hoạt động tình nguện xã hội”, “Câu lạc bộ phụ nữ với pháp luật”, “Mô hình cựu chiến binh tự quản”, “mô hình dòng họ tự quản không có tội phạm và tệ nạn xã hội”, “Khu dânkhông có người phạm tội, tệ ạn xã hội.”….

3. Công tác đấu tranh phòng, chống ma túy.

Trong 2 năm qua, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên địa bàn tỉnh không diễn biến công khai, trắng trợn những vẫn còn nhiều phức tạp.

Địa bàn hoạt động liên quan đến ma túy tập trung chủ yếu ở thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và huyện Vĩnh Tường. Quán triệt sự chỉ đạo, các lực lượng cảnh sát điều tra tội phamjv ề ma túy đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, quản lý chặt chẽ địa bàn, đối tượng. Đã chỉ đạo lực lượng Công an thường xuyên tổ chức các đợt tổng rà soát nhằm thu thập thông tin chính xác về tình hình tội phạm và tệ ạn ma túy tại địa bàn các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Tổ chức phân loại số đối tượng liên quan đến ma túy, các địa bàn trọng điểm, các tụ điểm, ổ nhóm mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã phát hiện, bắt giữ 345 vụ (tăng 118 vụ = 52% so với 2 năm 2006,2007 trước khi có Chỉ thị 21) =  563 đối tượng (tăng 117 đối tượng = 45,9%), trong đó:

- Mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy: 211 vụ (tăng 60 vụ) =  365 đối tượng (tăng 86 đối tượng),

- Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: 2 vụ (tăng 1 vụ) = 3 đối tượng,

- Sư dụng trái phép chất ma túy: 132 vụ (tăng 57 vụ)= 195 ĐT  (tăng 91 đối tượng)

Thu giữ 108,9126g Heroin, 0,3173g ma túy tổng hợp, 0,5823g ketamin, 1,4kg cần xa khô, 161.080.000đ và một số tang vật có liên quan.

Đã khởi tố điều tra 215 vụ (tăng 55 vụ)=  231 ĐT (tăng 55 đối tượng). Tòa án các cấp đã đưa ra xét xử 203 vụ (tăng 31 vụ)= 209 ĐT (tăng 35 đối tượng).

Phối hợp liên ngành tổ chức thanh tra, kiểm tra tại 25 cơ sở sản xuất, các điểm kinh doanh thuốc tân dược trên địa bàn, qua kiểm tra đã lập biên bản, nhắc nhở các cơ sở kinh doanh có vi phạm.

4. Công tác chữa trị, cai nghiện, phục hồi chức năng cho người nghiện ma túy.

Trong 2 năm đã tổ chức cai nghiện dưới các hình thức cho 971 đối tượng, cụ thể:

+ 276 đối tượng cai nghiện tại TT06 từ năm 2007 chuyển sang.

+ Lập hồ sơ đưa 394 đối tượng nghiện vào cai nghiện bắt buộc tại TT06.

+ 17 đối tượng cai nghiện tự nguyện tại TT06.

+ 277 đối tượng được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng

+ Bắt 10 đối tượng trốn cai nghiện trở lại TT06.

Đã đề xuất Ban chỉ đạo tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh duyệt dự án mở rộng quy mô Trung tâm cai nghiện bắt buộc (TT06) với quy mô cai nghiện bắt buộc cho 500 người nghiện. Nhìn chung công tác cai nghiện, chữa trị đã có nhiều cố gắng, Trung tâm Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh đã duy trì chữa trị, cai nghiện và tổ chức lao động cho số đối tượng cai nghiện tập trung, duy trì lao động, dạy nghề cho học viên gồm các nghề: mây tre đan, đan ghế nhựa, mộc, hàn…

Công an tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp với Sở Y tế, Sở Lao động Thương binh và xã hội tỉnh tổ chức cai nghiện thí điểm tại gia đình, cộng đồng bằng thuốc Bông sen cho 35 người nghiện tại các địa bàn trọng điểm.

5. Về hoạt động của đọi ngũ Cộng tác viên phòng, chống ma túy.

Theo đề xuất của Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm; phòng chống HIV/AIDS, tệ nạn ma túy, mại dâm tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo tuyển chọn những người có năng lực làm Cộng tác viên phòng, chống HIV/AIDS, phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm tại các xã, phường, thị trấn. Nhiệm vụ của đội ngũ Cộng tác viên là tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai, thực hiện các chủ trương, chính sách, kế hoạch, chỉ thị của cấp trên về công tác phòng chống HIV/AIDS, tệ nạn ma túy, mại dâm trên địa bàn; tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân để họ hiểu về tác hại của tệ nạn ma túy, mại dâm, về lây nhiễm HIV/AIDS; rà soát, phát hiện các trường hợp liên quan đến ma túy, mại dâm báo cáo đề xuất cấp ủy, chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng có biện pháp giải quyết; tham gia quản lý, giáo dục, tư vấn giúp đỡ người nhiễm HIV/AIDS, giúp đỡ người nghiện tại cộng đồng và thực hiện chế độ thông tin báo cáo theo quy định.

Trong 2 năm, đội ngũ Cộng tác viên đã trực tiếp tham gia tư vấn, giúp đỡ 277 đối tượng cai nghiện tại gia đình, cộng đồng; được tập huấn nâng cao trình độ nghiệp vụ tập trung tại tỉnh 02 lần (047 ngày) và thường xuyên được cấp, phát tài liệu tuyên truyền về ma túy, về phòng, chống HIV/AIDS. Công an các huyện, thành, thị, phòng Y tế, phòng Lao động TBXH duy trì chế độ giao ban định kỳ hàng quý với Cộng tác viên. Việc xây dựng đội ngũ Cộng tác viên cho cơ sở xã, phường, thị trấn đã được Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS, phòng chống tệ nạn ma túy mại dâm ghi nhận, đánh giá là một cách làm hay, sáng tạo và có hiệu quả.

III. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ:

Trong 2 năm thực hiện Chỉ thị 21 của Bộ Chính trị, Vĩnh Phúc đã đạt được một số kết ủa quan trọng, được thể hiện trên các mặt sau:

- Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự chỉ đạo, điều hành bước đầu đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các cấp với công tác phòng, chống, chống ma túy từng bước được nâng lên. Đã xác định rõ thái độ của các ngành, các cấp với công tác phòng chống ma túy là kiên quyết, không khoan nhượng và khẳng định đây là một cuộc đấu tranh quyết liệt, bền bỉ, đầy gian khổ, cần có các giải pháp đồng bộ để huy động sức mạnh của toàn dân, đồng thời cần phải được tổ chức chu đáo có phân công trách nhiễm rõ ràng và các giải pháp rất cụ thể có tính khả thi cao, trong đó phòng ngừa là nguyên tắc chủ yếu, cơ bản.

- Công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng chống, ma túy đã được đẩy mạnh, được triển khai bằng nhiều nội dung, hình thức khác nhau, góp phần kiềm chế, làm giảm tốc độ gia tăng tệ nạn ma túy trong tỉnh.

- Các cấp ủy đảng, chính quyền từ xã đến tỉnh đã tăng cường chỉ đạo quyết liệt đối với công tác phòng, chống ma túy, thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra để kịp thời chỉ đạo, giải quyết, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện. Đã coi kết quả việc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống ma túy là một tiêu chuẩn để bình xét thi đua, phân loại tổ chức đảng viên và khen thưởng hàng năm. Đã phát huy tốt vai trò của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác tuyên truyền, giáo dục và đấu tranh, phòng chống ma túy.

Tuy nhiên, nhìn lại việc thực hiện Chỉ thị 21 của Bộ Chính trị, Vĩnh Phúc vẫn còn một số tồn tại cần phải khắc phục trong thời gian tới, đó là:

- Cấp ủy, chính quyền ở một số địa phương cơ sở còn chưa nhận thức đầy đủ hiểm họa ma túy, do đó chưa thật sự quan tâm tới công tác đấu tranh, chống ma túy. Chưa xây dựng và ban hành được quy chế về xử lý trách nhiệm với cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền nếu xẩy ra tình trạng phức tạp về ma túy kéo dài.

- Chưa làm giảm sốt người nghiêm ma túy theo các mục tiêu, yêu cầu trong các Chương trình, kế hoạch của Chính phủ. Công tác cai nghiện ma túy hiệu quả thấp, tỷ lệ tái nghiện cao (tỷ lệ tái nghiện trên 90%). Bên cạnh đó là thái độ kỳ thị của một bộ phận cộng đồng xã hội đối với người nghiện ma túy. Chưa giải quyết được việc làm cho người nghiện ma túy sau khi cai nghiện trở về gia đình và cộng đồng.

- Công tác tuyên truyền, giáo dục tuy đã có chuyển biến bước đầu nhưng chưa đủ mạnh, nội dung, hình thức tuyên truyền chưa phong phú, chưa thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân, chưa có sự phối hợp, chỉ đạo chặt chẽ trong công tác tuyên truyền.

IV. KIẾN NGHỊ,ĐỀ XUẤT

Để tiếp tục phát huy hiệu quả sự phối hợp tham gia của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương trong công tác đấu tranh, phòng chống ma túy, từ thực tiễn của địa phương, xin đề xuất như sau:

- Để nâng cao hiệu quả thực hiện Chỉ thị 21 về quy định trách nhiệm của từng cán bộ, đảng viên và người đứng đầu của cấp ủy, chính quyền nếu để xẩy ra tình hình tệ nạn ma túy phức tạp, kéo dài ở địa phương mình thì phải chịu trách nhiệm và có hình thức kỷ luật về Đảng, chính quyền, tuy nhiên việc thực hiện còn khó khăn (kể cả việc phối hợp tham mưu để ra văn bản của cấp ủy, địa phương) vì vậy, đề nghị có hướng dẫn cụ thể hơn.

- Tăng cường công tác xây dựng cơ sở vật chất cho các Trung tâm tại địa bàn đủ năng lực, đảm bảo công tác cai nghiện chữa trị đạt hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đầu tư trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý con người tại  các xã, phường, chi kinh phí cho hoạt động ở cơ sở xã, phường một cách phù hợp, hiệu quả theo từng địa bàn.

- Đề nghị nghiên cứu tiếp tục tăng cường việc trang bị các phương tiện chiến đấu, phương tiện nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống ma túy cho các lực lượng đấu tranh, phòng chống ma túy nhằm hạn chế thấp nhất thương vong trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách làm công tác phòng, chống ma túy ở cấp xã để thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa ngay từ cơ sở.

V. PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ TRONG THỜI GIAN TỚI

- Tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở trong công tác phòng, chống ma túy. Xác định công tác phòng, chống ma túy là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của từng địa phương. Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân vào công tác đấu tranh phòng, chống ma túy. Từng bước kiềm chế tiến tới đẩy lùi tệ nạn ma túy, góp phần quan trọng đảm bảo an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

- Tổ chức tổng kết 5 năm để đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch tổng thể phòng, chống ma túy đến năm 2010, sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 21 của Bộ chính trị, qua đó thẳng thắn kiểm điểm, đánh giá tình hình, kết quả công tác đấu tranh, phòng chống ma túy trong thời gian qua để khắc phục những tồn tại, yếu kém xây dựng kế hoạch về tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả trong thời gian tới đây.

- Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền về phòng, chống ma túy nhằm nâng cao nhận thức trong cán bộ và nhân dân các dân tộc về công tác phòng, chống tội phạm ma túy và tệ nạn ma túy. Tổ chức tốt cuộc vận động “Toàn dân tham gia phòng chống tệ nạn ma túy ” trong đó gắn kết tinh thần trách nhiệm của những người đứng đầu công tác quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy tại các xã, phường, thị trấn.

- Tiếp tục tăng cường các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy; thực hiện có hiệu quả đợt cao điểm đấu tranh, phòng chống ma túy năm 2010, tập trung triệt phá các tụ điểm phức tạp về ma túy trên địa bàn, phối hợp chặt chẽ trong trao đổi thông tin, để chủ động có các phương án đấu tranh phòng chống ma túy trên các tuyến, các tụ điểm liên huyện, liên xã có liên quan.

- Thực hiện các giải pháp kiềm chế sự gia tăng người nghiện, nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy. Các cơ quan, ban, ngành chức năng thường xuyên rà soát số người nghiện ma túy để có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời; đẩy mạnh công tác tập trung, cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng; thực hiện tốt công tác quản lý sau cai, từng bước giảm tỷ lệ tái nghiện.

- Xây dựng và triển khai cấp kinh phí phòng, chống ma túy cho các xã, phường, thị trấn trọng điểm thực hiện Đề án xây dựng xã, phường, thị trấn không ma túy.

Trên đây là báo cáo sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 21 của Bộ chính trị của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc./.

 

TM. BAN THƯỜNG VỤ
PHÓ BÍ THƯ 

(Đã ký) 

Nguyễn Văn Chức